Viên Mỡ Bò – Boule De Suff

Viên Mỡ Bò

Guy De Maupassant

Chương 1

Suốt mấy ngày liền từng mảng binh đoàn tan rã diễu qua thành phố. Họ không còn là quân đội nữa, mà là những người ô hợp tán loạn. Người nào người nấy râu dài nhem nhuốc, quân phục rách nát, họ uể oải tiến bước, chẳng có cờ, cũng chẳng thành cơ ngũ gì hết. Tất cả đều như rã rời, kiệt sức, chân đi chỉ là vì quen thuộc, và hễ cứ đứng lại là khuỵu xuống vì mệt lữ. Người ta thấy nhiều nhất là lính động viên, những con người vốn ưa bình an, sống yên ổn với lợi nhuận hàng năm, lưng còng xuống vì súng đạn nặng
.Những chú vệ động(1) nhỏ lanh lợi, dễ hoảng sợ và cũng mau phấn khởi, sẵn sàng tấn công cũng như sẵn sàng chạy trốn.Rồi, giữa đám người đó là vài cậu quần chẽn đỏ(2), tân quân của một sư đoàn bị nghiền nát trong một trận lớn, những pháo thủ rầu rĩ đi cùng hàng với đám bộ binh tạp nham ấy và thỉnh thoảng lại thấy lấp lánh chiếc mũ sắt của một chú lính đầu rồng chân nặng, vất vả lắm mới theo được những anh lính bộ dáng đi nhẹ nhàng hơn.
Rồi đến lượt các đoàn quân nghĩa dũng mang những tên oai hùng:“Quân rửa thù thất trận- Công dân cảm tử- Quyết tử quân” diễu qua trông như bọn kẻ cướp.
Cấp chỉ huy của họ, trước đây là những tay buôn da hoặc ngũ cốc, những anh bán mỡ bò hoặc xà phòng, chiến sĩ nhất thời, được làm sĩ quan chỉ vì đồng tiền của họ hoặc vì bộ ria mép dài, trên mình đầy vũ khí, dạ mềm với lon quan.Họ nói oang oang, bàn luận kế hoạch tác chiến và cho rằng chỉ có mình họ chống đỡ nước Pháp đang hấp hối trên vai anh hùng rơm của họ. Song đôi khi họ lại sợ quân lính của chính mình, dân đầu trộm đuôi cướp, thường liều lĩnh bạt mạng, quen cướp phá và trác táng.
Người ta đồn quân Phổ sắp tiến vào thành Ruăng.
Đoàn Dân vệ từ hai tháng nay mở những cuộc thám thính rất thận trọng vào các rừng lân cận, đôi khi bắn phải cả quân canh cửa của chính mình, và chuẩn bị chiến đấu cả mỗi khi một chú thỏ con động đậy trong bụi rậm, thì ai nấy đã trở về nhà. Vũ khí, đồng phục, với tất cả mớ đồ để giết người, mới đây còn làm cho những trụ cây số trên các đường quốc lộ quanh vùng ba dặm trông thấy cũng phát hoảng, bỗng chốc vụt biến đi đâu mất.
Sau hết, những người lính Pháp cuối cùng vượt qua sông Xen để về Pông-Ođơme theo đường Xanh-Xove và Buôc-Asa; và sau tất cả mọi người, là vị tướng chỉ huy đi bộ, giữa hai viên sĩ quan hầu, vẻ tuyệt vọng, không còn thi thố được gì với đám tàn quân tan tác này nữa, vì chính hắn cũng bàng hoàng trong cảnh tan rã lớn của một dân tộc vốn quen chiến thắng và nay bị đại bại thảm khốc mặc dầu dân tộc đó vẫn có một truyền thống anh dũng truyền kỳ.
Rồi một bầu không khí vô cùng yên tĩnh, một sự đợi chờ kinh hoảng và lặng lẽ bay lượn trên thành phố. Nhiều anh tư sản bụng phệ, mà nghề buôn đã trở nên hèn đớn, lo lắng đợi những kẻ chiến thắng và run lên cầm cập vì sợ người ta coi những cái xiên thịt quay hoặc những con dao lớn làm bếp của họ là vũ khí.
Cuộc sống dường như ngừng lại, các cửa hiệu đóng cửa kín mít, phố xá câm lặng. Thỉnh thoảng một người dân, sợ vì sự im lặng đó, len lén đi men theo các bờ tường.
Nỗi khắc khoải lo âu của đợi chờ khiến người ra mong quân thù mau đến cho xong.
Quân đội Pháp rút đi hôm trước thì quá trưa hôm sau vài tên kỵ binh xung kích, không biết từ đâu chui ra, vụt qua thành phố rất nhanh. Rồi, sau đó một chút, một đám quân đông đặc từ trên đồi Nữ thánh Catơrin tràn xuống trong khi hai đợt sóng xâm lăng khác xuất hiện trên các đường đi Dacnêtan và Boa Ghiôm. Tiền đội của ba binh đoàn, đúng vào cùng một lúc, liên lạc với nhau ở quảng trường tòa thị sảnh và từ khắp các phố lân cận, quân Đức đổ tới, đội ngũ diễu hành, bước nhịp đều, nện gót choang choang trên mặt đường đá tảng.
Những hiệu lệnh hô bằng một giọng lạ tai, ồm ồm cất lên dọc theo các căn nhà dường như chết và vắng lặng, trong khi, ở sau cửa chớp đóng kín, những con mắt đang rình ngó những người chiến thắng ấy, chủ nhân của đô thị, của mọi tài sản và sinh mệnh, chiếu theo “luật chiến tranh”. Trong các buồng tối âm u, dân thành phố đang hốt hoảng như khi có thiên tai, những biến động tàn khốc lớn của trái đất mà bất cứ sự khôn ngoan nào, sức mạnh nào đối phó lại cũng đều vô ích. Vì cũng vẫn cái cảm giác ấy lại xuất hiện mỗi lần trật tự sự vật bị đảo lộn, an ninh không còn nữa, và tất cả những gì vốn được luật pháp của loài người hoặc qui luật tự nhiên che chở, thì nay đều bị phó mặc cho một sự tàn bạo vô ý thức và hung dữ. Trận động đất đè bẹp cả một dân tộc dưới những nhà cửa đổ sụp, con sông tràn bờ cuốn theo bao nông dân chết đuối cùng với xác bò và giầm xà bị rứt tung khỏi mái nhà, hoặc đoàn quân chiến thắng tàn sát những người dám tự vệ, bắt những người khác làm tù binh, ỷ vào thế lưỡi gươm để cướp phá và cảm tạ một vị thượng đế nào đấy bằng tiếng đại bác.Tất cả những cái đó đều là những tai ương khủng khiếp làm đảo lộn mọi tin tưởng vào Công lý vĩnh cửu, tất cả lòng tin mà người ta vẫn dạy bảo xưa nay vào sự che chở của Trời và lý tính của con Người.
Song có những đơn vị nhỏ đến gõ cửa từng nhà, rồi biến vào bên trong. Đó là cảnh chiếm đóng sau cuộc xâm lăng. Bắt đầu từ giờ, những kẻ bị thua có bổn phận phải tỏ ta niềm nở đối với kẻ thắng.
Một thời gian sau, khi nỗi khiếp sợ ban đầu đã qua, một cảnh yên tĩnh mới được thiết lập. Trong nhiều nhà, tên sĩ quan Phổ ăn cùng với gia đình. Cũng có khi hắn là người có giáo dục, và vì lễ độ, hắn ái ngại cho nước Pháp, nói lên lòng chán ghét phải tham gia cuộc chiến tranh này. Người ta biết ơn hắn vì chút tỏ tình đó vả chăng, có thể một ngày nào đấy người ta sẽ cần đến sự che chở của hắn. Nương nhẹ hắn biết đâu chẳng được bớt đi vài người phải nuôi ăn. Và tại sao lại làm phật ý một kẻ mình phải hoàn toàn tùy thuộc vào chứ? Làm như vậy chẳng phải là dũng cảm gì mà chỉ là liều lĩnh.Và sự liều lĩnh chẳng còn là một khuyết điểm của dân Ruăng, như thời thành phố của họ đã nổi danh trong những cuộc chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm.Sau hết người ta tự nhủ, và đây là lý do tối cao căn cứ vào tính lịch sự của người Pháp, rằng ở trong nhà thì rất được phép có lễ độ miễn là ra nơi công chúng đừng có vẻ thân tình với lính ngoại quốc. Ra ngoài thì không quen biết gì nhau nữa, nhưng ở nhà thì họ vui lòng trò chuyện, và tên Đức bữa tối lại ngồi lâu hơn để sười lò sưởi chung
Thành phố dần dần trở lại quang cảnh bình thường. Người Pháp còn ít bước chân ra ngoài nhưng lính Phổ thì lúc nhúc trên các đường phố. Vả chăng bọn sĩ quan khinh kỵ áo lam ngạo nghễ kéo lê trên mặt đường những khí cụ lớn để giết người, đối với các công dân thường hình như cũng không tỏ vẻ khinh bỉ gì quá lắm so với bọn sĩ quan bộ binh năm trước cũng uống rượu ở các quán cà phê ấy.
Tuy nhiên vẫn có cái gì trong không khí, một cái gì tinh vi và mới lạ, một bầu không khí ngoại lai không chịu được, như một mùi gì lan rộng, cái mùi ngoại xâm. Nó tràn vào đầy các nhà và các quảng trường, thay đổi vị các món ăn, cho người ta có cảm giác như đi xa, xa lắm, đến xứ sở của những bộ lạc man rợ và nguy hiểm.
Những kẻ chiến thắng đòi hỏi tiền, rất nhiều tiền. Dân thành phố vẫn cứ trả, vả chăng họ cũng giàu. Song một anh lái buôn miền Normăngđi càng trở nên giàu có bao nhiêu thì mỗi hy sinh, mỗi tí chút của cải của họ chuyển sang tay kẻ khác lại làm họ đắng cay bấy nhiêu.
Nhưng dọc theo dòng sông, phía dưới thành phố hai dặm, về phía Croatxê, Đieppơzalơ, hoặc Bietxa, các thủy thủ và những người đánh cá thường lôi từ đáy sông lên một vài xác bọm Đức trương phềnh trong bộ quân phục,bị giết bằng một nhát dao hay một miếng đá ác hiểm, đập đầu bằng một tảng đá, hoặc bị đẩy từ trên một chiếc cầu cao xuống nước. Bùn dưới sông vùi kín những cuộc trả thù bí mật, tàn bạo và chính đáng ấy, những hành động anh hùng không ai biết, những cuộc tấn công thầm lặng, nguy hiểm hơn những trận chiến đấu giữa thanh thiên bạch nhật và không có tiếng vang lừng lẫy của vinh quang.
Vì lòng căm thù kẻ ngoại bao giờ cũng võ trang cho một vài người quả cảm sẵn sàng chết vì một lý tưởng.
Sau cùng, vì những kẻ xâm lăng, tuy bắt thành phố phải chịu cái kỷ luật hà khắc của chúng, nhưng chưa hề làm một việc gì giống những điều kinh khủng như tiếng đồn lừng lên là chúng đã phạm suốt dọc đường tiên quân chiến thắng cho nên người ra cũng mạnh dạn dần, và sự cần buôn bán lại khiến các thương nhân phải băn khoăn, suy tính. Một vài người có những quyền lợi lớn vướng mắc ở Lơ Havrơ do quân Pháp đóng, họ muốn thử tới cảng đó bằng cách đi đường bộ đến Đieppơ, rồi từ đấy xuống tàu.
Người ta lợi dụng bọn sĩ quan Đức mà người ta quen, và xin được của viên tướng tổng tư lệnh một giấy thông hành.
Vậy là sau khi đặt thuê một cỗ xe lớn bốn ngựa cho cuộc hành trình ấy, với mười người ghi tên ở nhà chủ xe, họ quyết định ra đi vào một buổi sớm thứ ba, trước lúc trời sáng, để tránh sự tụ tập đông người.
Giá rét ít lâu nay đã làm mặt đất rắn lại, và hôm thứ hai, vào khoảng ba giờ sáng, những đám mây đen lớn từ phương bắc đem tuyết đến, tuyết rơi không lúc nào ngớt suốt chập tối và suốt đêm.
Đến bốn giờ rưỡi sáng, các hành khách họp nhau trong sâu lữ quán Normăngđi để lên xe
Họ đều còn ngái ngủ, và rét run cầm cập dưới làn chăn mềm.Trong đêm tối họ không trông thấy rõ nhau, và mớ quần áo rét nặng, mặc lồng mấy lớp, làm cho tất cả những thân hình kia chẳng khác gì những cha cố bụng phệ, mặc áo thầy tu dài thượt. Nhưng hai người đàn ông nhận ra nhau, một người thứ ba đến gần họ, và họ trò chuyện: “Tôi đem nhà tôi theo, một người nói. –Tôi cũng thế, -Cả tôi cũng vậy”. Người thứ nhất nói thêm: “Chúng tôi sẽ không trở về Ruăng làm gì, và nếu quân Phổ đến gần Lơ Havrơ thì chúng tôi sẽ sang Anh”. Tất cả đều có những ý định như nhau, vì tính chất họ giống nhau.
Tuy nhiên không thấy người ta thắng xe. Thỉnh thoảng một chiếc đèn kính nhỏ do một bác mã phu xách, ló ra ngoài khuôn cửa tối om để rồi lại biến ngay vào trong một cửa khác. Tiếng chân ngựa giậm xuống đất, nghe êm đi vì có lớp phân ổ lót chuồng và ở cuối ngôi nhà có tiếng người nói với súc vật, vừa nói vừa rủa. Một tiếng nhạc ngựa nhè nhẹ báo hiệu người ta đang soạn yên cương, không mấy chốc thứ tiếng nho nhỏ ấy rung lên rõ và rền nhịp theo cử động của con vật, đôi khi ngừng lại, rồi lại dội lên đột ngột, kèm theo là tiếng móng sắt ngựa nện xuống đất lộp cộp.
Cánh cửa bỗng nhiên đóng sập lại. Mọi tiếng động đều im bặt. Mấy người thị dân rét cống không trò chuyện nữa: họ đứng yên, người cứng đờ.
Một màn bông tuyết trắng mịt mù óng ánh không ngừng trong khi rơi xuống đất, xóa các hình thù, rắc lên mọi vật một lớp bọt băng, và trong cái im lặng mênh mông của thành phố yêm tĩnh, chìm đắm trong mùa đông, chỉ còn nghe thấy cái thứ tiếng lao xao mơ hồ và chơi vơi của tuyết rơi, không biết gọi đó là gì cho được, một cảm giác đúng hơn làm một tiếng động, sự xáo trộn của những vật li ti nhẹ bổng hình như tràn ngập không gian, bao phủ thế giới.
Người đàn ông lại ló ra với chiếc đèn kính, tay cầm dây thừng lôi một con ngựa buồn thỉu chẳng chịu cất bước. Bác ta đặt ngựa đứng sát cán xe, buộc các dây kéo, vòng đi vòng lại quanh xe hồi lâu để gò chắc yên cương, bác chỉ dùng được có một tay, tay còn lại xách đèn. Khi sắp sửa đi tìm con ngựa thứ hai, bác chợt nhận thấy đám hành khách đứng khong nhúc nhích, người đã trắng xóa vì tuyết, bác liền bảo họ: “Tại sao các ông các bà không lên xe mà ngồi? Ít ra cũng còn tránh được tuyết”.
Hẳn là họ đã không nghĩ tới điều đó, thế là họ hấp tấp lên xe. Ba người đàn ông cho vợ ngồi vào trong cùng, và bước lên sau, rồi những người khác, bóng dáng mờ mờ, không rõ hình thù, cũng lần lượt ngồi vào chỗ còn lại, chẳng nói với nhau một lời.
Sàn xe có rải rơm, chân họ thúc vào đó. Các bà ngồi ở trong cùng, vì cổ mang theo những lồng ấp nhỏ bằng đồng với một thứ than hóa học, liền đốt lên, và trong chốc lát họ thì thào kể ra những cái tiện lợi của lồng ấp, nhắc lại với nhau những điều họ đã biết từ lâu.
Sau cùng, xe đã thắng xong, với sáu chứ không phải bốn ngựa vì phải kéo nặng hơn, một tiêng nói bên ngoài hỏi: “Mọi người lên xe cả chưa?” Một tiếng nói bên trong đáp: “Lên cả rồi” Thế là người ta lên đường.
Xe đi chầm chậm, chầm chậm, thủng thỉnh bước một. Bánh xe lún xuống tuyết, thùng xe rền rĩ, kêu răng rắc.Mấy con ngựa trượt chân, thở phì phò, hơi bốc trên mình, và chiếc roi to tướng của bác xà ích không ngừng quất đen đét tứ phía, xoắn vào rồi lại mở ra như một con rắn mỏng mình, và đột nhiên quất vào một cái mông béo bẫm, khiến cho nó căng lên vì sức mạnh hơn.
Nhưng trời sáng dần dần từ lúc nào không biết. Những bông tuyết nhẹ mà một du khách, vốn là dân Ruăng chính cống, gã ví với một trận mưa bông, không còn rơi nữa. Một thứ ánh sáng bẩn, lọt qua những đám mây lớn, đen và nặng, làm cho màu trắng của đồng quê càng rực rỡ hẳn lên; đó đây xuất hiện một hàng cây to phủ đầy sương giá hoặc một túp lều tranh, mái phủ kín tuyết trông như cái mũ chóp.
Trong xe, dưới ánh sáng ảm đạm của buổi bình minh ấy, mọi người tò mò nhìn nhau.
Ở tận trong cùng, chiếm những chỗ tốt nhất và đang ngủ gà ngủ gật trước mặt nhau, là hai vợ chồng Loadô, nhà buôn rượu vang ở phố Cầu Lớn.
Nguyên là tài công cho một người chủ bị phá sản trong kinh doanh, Loadô đã mua lại cửa hiệu của chủ và trở nên giàu có. Hắn bán rượu vang mạt hạng thật rẻ cho các cửa bài nhỏ ở thôn quê, và những người quen biết cùng là bạn hữu hắn vẫn coi hắn là một gã bịp bợm quỉ quyệt, một anh chàng Normăng chính cống, lắm mưu một quỷ quyệt và vui tính.
Hắn lừng tiếng ăn cắp đến nỗi, một buổi tối kia, ở dinh quận trưởng, ông Tuôcnen, tác giả những bài ngụ ngôn và ca vè, một người có đầu óc châm biếm sâu cay và tế nhị, một danh nhân của địa phương, thấy các bà chơi trò “Chim Bay”(3), chính hai tiếng đó cũng bay qua các phòng khách khác trong thành phố, làm cho toàn tỉnh cười bò ra suốt một tháng ròng.
Ngoài ra Loadô còn nổi tiếng vì những trò tinh nghịch đủ kiểu, những câu bông đùa hay hoặc dở của hắn, và hễ nói đến là không ai không chêm ngay tức khắc: “Cái thằng cha Loadô ấy thật không chê được!”.
Người hắn nhỏ bé, bụng hắn phưỡn ra tròn như quả bóng, bên trên là một bộ mặt đỏ tía giữa hai chòm râu má đã hoa râm.
Vợ hắn, to lớn, khỏe mạnh, rắn rỏi, tiếng nói oang oang và ý định mau lẹ, là người cầm cân nảy mực trong các cửa hiệu mà sự hoạt động vui vẻ của hắn thúc đẩy cho thêm náo nhiệt.
Ngồi bên cạnh họ, trịnh trọng hơn, thuộc một giai cấp cao hơn, là ông Carê Lamađông, một người tai mắt, có địa vị trong ngành kinh doanh bông, chủ ba nhà máy dệt, đệ tử đảng Bắc đẩu bội tinh và có chân trong Hội đồng hàng quận. Suốt thời kỳ Đế chính, ông ta vẫn là thủ lĩnh của phái đối lập ôn hòa, chỉ cốt để được đền bù đắt giá hơn sau này khi ông ngã theo cái chính thể mà ông đã đấu tranh chống lại bằng những vũ khí lịch sự theo lối nói của chính ông. Bà Carê Lamađông, trẻ hơn chồng nhiều, vẫn còn là nguồn an ủi của những sĩ quan con nhà dòng dõi về đồn trú ở Ruăng.
Bà ta ngồi đối diện với chồng, trông thật là bé nhỏ, thật là kháu khỉnh, thật là xinh đẹp, co ro trong những bộ lông thú và chán ngán nhìn cái thùng xe tồi tàn, thảm hại.
Ngồi bên cạnh bà, vợ chồng bá tước Huybeđơ Brêvin là những người mang một trong những dòng họ kỳ cựu nhất và quý phái nhất xứ Normăngđi. Vốn là nhà quý tộc già phong thể đường bệ, dáng người tự nhiên giống vua Henry đệ tứ, bá tước lại cố ăn mặc thật khéo léo để mình thêm giống nhà vua hơn, vì theo một truyền thuyết vẻ vang cho gia đình, nhà vua, đã làm cho một phu nhân trong họ Brêvin có mang, khiến đức phu quân vì thế mà được phong bá tước và làm tổng trân một tỉnh.
Đồng nghiệp với ông Carê Lamađông tại Hội đồng hàng quận, bá tước Huybe đại diện cho phái bảo hoàng Orlêăng ở trong tỉnh. Chuyện ông kết hôn với con gái một chủ tàu nhỏ ở Năng-tơ đến nay vẫn còn ví là điều khó hiểu. Song vì bá tước phu nhân có phong cách đại gia, biết tiếp khách giỏi hơn ai hết, lại có tiếng là đã được một hoàng tử của đức vua Luy-Philip yêu dấu, cho nên tất cả giới quý tộc đều hoan nghênh bà, và phòng khách của bà vẫn là đứng đầu trong xứ, nơi độc nhất còn giữ vẻ hào hoa phong nhã cũ, và được lui tới đó không phải là chuyện dễ dàng.
Người ta đồn gia sản nhà Brêvin toàn là của chìm, lên tới năm mươi vạn quan lợi tức.
Sáu người ấy ngồi ở trong cùng họp thành giới xã hội có tiền của, thanh thản và thế lực, những người lương thiện đáng mặt, sùng đạo và sống có nguyên tắc.
Do một sự tình cờ kỳ lạ, tất cả các bà đều ngồi cùng một ghế; và bên cạnh bà bá tước còn có thêm hai bà phước ngồi lần những chuỗi tràng hạt dài, nhẩm đọc kinh Lạy cha và Kính mừng. Một bà thì già, mặt rỗ nhằng rỗ nhịt và bệnh đậu mùa, tựa như bị một loạt đạn gHém bắn thẳng vào ngay giữa mặt. Còn bà kia rất ẻo lả, mặt nom xinh xắn và ốm yếu với bộ ngực ho lao, bị vạc dần đi vì một lòng sùng tín mãnh liệt thường tạo nên những con người tử vì đạo và những con người được thần cảm.
Đối diện với hai bà phước có một người đàn ông và một người đàn bà khiến mọi người đều chú ý.
Người đàn ông rất nhiều người biết, là Corhuyđê dân chủ, nỗi kinh hoàng của tất cả những hạng người đứng đắn. Đã hai mươi năm nay y nhúng bộ râu đỏ kệch của y vào những cốc vại của mọi tiệm cà phê dân chủ. Cùng với các anh em bạn hữu, y đã phá tan một gia tài khá lớn thừa hưởng của ông bố, vốn là một nhà làm mứt kẹo, và y sốt ruột đợi chờ nền cộng hòa để có được cái địa vị xứng đáng với biết bao khoản tiêu xài cách mạng như thế. Ngày mồng bốn tháng chín(4), có lẽ lo một trò đùa nghịch, y đã tưởng mình được bột nhiệm quận trưởng nhưng khi y muốn đến nhận chức thì các nhân viên chạy giấy, những người độc chiếm trụ sở lúc bấy giờ, y đã lo tổ chức chống lại quân thù với một lòng hăng hái không ai bì kịp. Y đã cho đào hố ở cánh đồng, ngả hết các cây con của những rừng lân cận, đặt cạm bẫy trên tất cả các nẻo đường, và khi quân thù sắp kéo đến thì, hài lòng vì công cuộc chuẩn bị đó, y vội vã rút về thành phố. Bây giờ y nghĩ rằng đến Lơ Havrơ y sẽ giúp ích được nhiều hơn, vì ở đấy rồi đây hẳn là cần phải có những công sự phòng ngự mới.
Người đàn bà, thuộc hạng người ta gọi là điếm đàng, nổi tiếng vì cái thân hình sớm đẩy đà khiến cô ta đi được đặt tên là Viên Mỡ Bò(5). Người thấp nhỏ, với các ngón tay nần nẫn thắt lại ở các đốt trông tựa những chuỗi dồi ngắn, làn da bóng nhẩy và căng, một bộ ngực đồ sộ, lồ lộ dưới làn áo, cô ta tuy vậy trông vẫn còn ngon mắt và được theo đuổi nhiều, vẻ xuân sắc của cô thật đáng ưa nhìn. Mặt cô là một trái táo đỏ, một nụ thược dược sắp nở, và ở phía trên khuôn mặt ấy là một đôi mắt mở ra đen lay láy, tuyệt đẹp, ẩn dưới hai hàng mi dày rủ bóng.Phía dưới, một khuôn miệng hẹp, có duyên, ướt át gợi tình, với hàm răng nhỏ xíu, trắng bóng.
Ngoài ra, người ta bảo cô còn có nhiều đức tính quý hóa vô cùng.
Mọi người vừa nhận ra cô thì lập tức có những lời thì thào lan ra trong đám mấy bà mệnh phụ, và những tiếng “đồ đĩ” – “xấu hổ chung” được xì xào quá to khiến cô phải ngẩng đầu lên. Cô ta bèn đưa mắt nhìn khắp lượt những người ngồi chung quanh, một cái nhìn khiêu khích và táo bạo đến nỗi mọi người tức khắc im thin thít, và ai nấy đều cúi mặt xuống, trừ có Loadô là cứ dòm cô, vẻ khoái trá.
Nhưng không bao lâu, ba bà kia lại tiếp tục nói chuyện, sự có mặt của cô gái điếm làm cho ba bà bỗng chốc trở nên thân thiện, hầu thành những bạn chí thiết. Dường như các bà thấy rằng cần phải đem cái phẩm cách đoan trang làm vợ của các bà kết lại với nhau thành một khối trước mặt kẻ bán thân vô liêm sỉ nọ, vì bao giờ tình yêu hợp pháp cũng lên mặt coi khinh bạn đồng nghiệp tự do của nó.
Ba người đàn ông cũng nhích lại gần nhau vì một bản năng bảo thủ trước mặt Cornuyđê, họ nói chuyện tiền bạc với một thứ giọng miệt thị người nghèo. Bà bá tước Huybe kể chuyện thiệt hại của ông chồng do bọn Phổ gây ra, những mất mát vì gia súc bị đánh cắp và mùa màng thất thu, với cái vẻ vững vàng tự tin của người chúa đất lớn, giàu thiên ức vận tải, mà những chuyện phá hại đó bất quá chỉ làm phiền ông đến một năm là cùng. Ông Carê Lamađông bị tổn thất nặng nề trong nghề dệt, đã cẩn thận gửi sáu trăm nghìn quan sang nước Anh, làm món tích cốc phòng cơ(6), để đối phó với bất cứ hoàn cảnh nào. Còn về phần Loadô thì hắn đã khéo thu xếp bán hết mọi thứ rượu vang hạng thường còn lại trong hầm rượu trong sở quân nha Pháp, thành thử nhà nước mang nợ hắn một số tiền kếch sù mà hắn mẩm tính sẽ lãnh được ở Lơ Havrơ.
Và cả ba người đưa nhanh mắt nhìn nhau thân thiện.Tuy xuất thân khác nhau, họ đều cảm thấy là anh em vì đồng tiền, cũng ở trong cái hội tam điểm lớn(7) những người có của, cứ thọc tay vào túi quần là vàng kêu xủng xoảng.
Xe đi chậm đến nỗi mười giờ sáng vẫn chưa qua được bốn dặm đường. Các ông ba lần phải xuống xe đi bộ để vượt qua những quãng đường dốc. Mọi người bắt đầu lo ngại, vì đã dự tính sẽ ăn sáng ở Totơ, mà bây giờ thì khó có hy vọng tới được đấy trước khi trời tối. Ai nấy đều đang nhòm ngó tìm một quán rượu bên đường thì bỗng chiếc xe đâm vào một đống tuyết, hai tiếng đồng hồ sau mới lôi được xe ra.
Cái đói mỗi lúc một tăng làm rối loạn tâm trí, mà chẳng thấy bóng dáng một hàng quán, một người bán rượu nào hiện ra hết, vì bọn Phổ đang tới gần với những đoàn quân Pháp đói lả kéo qua đã làm cho mọi ngành nghề đều hoảng sợ.
Các ông chạy đi kiếm thức ăn ở các trại ấp bên đường, nhưng ngay đến bánh mì cũng chẳng tìm ra được. Người nông dân nghi kỵ đã cất giấu lương thực dự trữ, sợ bị cướp đoạt mất, vì đám quân lính chẳng có gì ăn thường cưỡng bức lấy bừa bất cứ cái gì họ tìm thấy.
Vào khoảng một giờ trưa, Loadô tuyên bố rằng quả tình hắn thấy là quả là khá đói. Mọi người cũng đều đói như hắn từ lâu, và nhu cầu ăn luôn luôn thục bách đã giết chết cả mọi chuyện trò.
Thỉnh thoảng có ai đó ngáp vặt,một người khác hầu như bắt chước liền, và ai nấy cứ lần lượt, tùy theo tính nết, trình độ lịch sự và địa vị xã hội của mình, mà há hốc mồm ra một cách ầm ĩ hoặc khiêm tốn, bàn tay vội đưa lên che cái lỗ rộng toang hoác thở ra một làn hơi khói.
Viên Mỡ Bò đã nhiều lần cúi xuống tựa hồ cô ta muốn tìm một cái gì dưới chân. Cô do dự một giây, nhìn những người ngồi bên, rồi lại tự nhiên ngồi thẳng lên. Hết thảy các bộ mặt đều xanh nhợt và nhăn nhó. Loadô quả quyết rằng hắn sẵn sàng trả một ngàn quan cho một cái dăm bông nhỏ. Vợ hắn có một cử chỉ như muốn cự lại, nhưng rồi mụ cũng ngồi yên. Cứ nghe nói đến tiền bị phung phí là mụ ta thấy đau khổ, và ngay đến nói đùa về vấn đề ấy mụ ta cũng không hiểu nổi. Bà bá tước thì nói: “Sự thực thì tôi cũng thấy trong người khó chịu làm thế nào mà tôi lại không nghĩ đến chuyện đem theo thức ăn nhỉ”. Ai cũng tự trách mình như thế.
Tuy nhiên, Cornuyđê có một bình đựng đầy rượu rỏm, y đem ra mời, mọi người lạnh lùng từ chối. Chỉ có Loadô nhấp vài giọt và khi trao trả bình, hắn cảm ơn: “Dù sao cũng tốt, nó làm cho ấm người lên, và đánh lừa cái đói”. Rượu vào hắn đâm ra vui tính, và hắn đề nghị làm như ở trên chiếc tàu nhỏ trong bài hát: là ăn thịt người hành khách béo nhất. Câu nói ấy gián tiếp ám chỉ Viên Mỡ Bò khiến những người có giáo dục thấy chói tai. Không ai đáp lại, chỉ có riêng Cornuyđê đó là mỉm cười. Hai bà phước lúc này đã ngừng lẩm bẩm lần tràng hạt, và ngồi yên, hai bàn tay thọc sâu vào ống tay áo rộng, cố tình cúi nhìn xuống, ý hẳn đang dâng lên trời nỗi đau khổ mà trời giáng xuống họ.
Sau cùng, đến ba giờ, xe đang đi giữa một cánh đồng mênh mông bất tận, chẳng thấy bóng một làng mạc nào trước mặt, Viên Mỡ Bò liền cúi ngay xuống, lôi ở gầm ghế ra một cái làn to, phủ một chiếc khăn trắng.
Trước hết cô ta moi ở làn ra một chiếc đĩa sứ nhỏ, một cốc bạc xinh xắn, rồi đến một cái liễn sành rộng đựng hai con gà giò đã chặt sẵn từng miếng, ướp một lớp mỡ đông, người ta trông thấy ở trong làn còn nhiều thứ ngon lành khác gói ghém cẩn thận, nào pa-tê, nào quả tươi, nào kẹo bánh, những thức ăn chuẩn bị cho một cuộc hành trình ba ngày, để khỏi phải đụng đến món ăn các quán trọ. Giữa các gói thức ăn, thò ra bốn cái cổ chai. Cô ta cầm lấy một chiếc cánh gà và bắt đầu ăn nhỏ nhẹ với một chiếc bánh mì nhỏ, thức bánh ở Normăngđi người ta vẫn gọi là bánh “No ếp chính”.
Mọi con mắt đều đổ dồn về cô ta. Rồi mùi thơm tỏa lên, làm các cánh mũi mở rộng, nước miếng ứa ra đầy miệng mọi người và quai hàm co lại nhức nhối ở phía dưới tai. Lòng khinh bỉ của các bà đố với cô gái đĩ ấy trở nên dữ tợn hơn, cơ hồ các bà muốn giết chết cô ta hay quẳng cô ra khỏi xe, ném xuống tuyết, cả cô ta lẫn chiếc cốc, cái làn và các thức ăn của cô.
Nhưng Loadô hau háu nhìn cái liễn đựng thịt gà. Hắn nói: “Hay quá, bà đây đã khéo lo xa hơn chúng tôi. Ấy có những người bao giờ cũng biết lo liệu chu đáo mọi chuyện”. Cô ta ngẩng đầu lên nhìn hắn: “Thưa ông, ông vui lòng xơi một chút chăng? Từ sáng đến giờ mà nhịn đói kể cũng gay”. Hắn cúi đầu cảm ơn: “Quả tình, xin thú thực là tôi không dám từ chối, tôi không sao kham nổi nữa. Gặp thế nào hay thế ấy(8), phải không thưa bà?” Và nhìn quanh mọi người một lượt, hắn nói tiếp: “Trong những bước thế này, mà gặp được người giúp đỡ mình thì thật là dễ chịu”. Sẵn có một tờ báo hắn liền trải ra để khỏi dây bẩn vào quần, rồi, với mũi con dao lúc nào cũng nằm trong túi hắn, hắn xóc một miếng đùi gà bóng nhẩy mỡ đông, lấy răng xé ra, rồi nhai với một vẻ thỏa mãn quá hiển nhiên. Khiến trong xe nổi lên một tiếng thở dài thật não ruột.
Song Viên Mỡ Bò, với một giọng khiêm tốn và dịu dàng, mời hai bà phước cùng ăn lót dạ với cô. Cả hai bà nhận ngay lập tức và không hề ngẩng mặt lên, bắt đầu ăn luôn rất nhanh sau khi ấp úng lẩm bẩm mấy lời cảm ơn. Cornuyđê cũng không từ chối lời mời của cô gái ngồi bên, và cùng với hai bà phước, họ trải rộng tờ báo lên đầu gối làm một bàn thức ăn.
Mấy cái miệng hết há ra lại ngậm vào, nuốt nhai, ngốn lấy ngốn để. Loadô ngồi trong góc hoạt động rất mạnh và thì thầm bảo vợ hãy nên bắt chước mình. Mụ cố cầm cự hồi lâu, rồi sau một cơn đau quặn ruột gan, mụ ta đành chịu thua. Thế là. Loadô lựa lời thật ngọt ngào, lịch sự hỏi “Bà bạn quý” có cho phép hắn mời bà Loadô ăn tí chút được không. Cô ta nói: “Thưa ông, vâng, có chứ ạ!” Với một nụ cười niềm nở, và chìa cái liễn ra.
Khi mở đến chai rượu vang đỏ đầu tiên thì mọi người lúng túng: chỉ có mỗi một chiếc cốc. Họ bèn chuyền cho nhau sau khi chùi miệng cốc. Riêng có Cornuyđê, ý hẳn để tỏ ra phong nhã lịch sự, nhấp môi ngay vào chỗ miệng cốc còn ướt vì môi cô gái ngồi cạnh.
Thế là bị bao người đang ăn vây quanh, ngột ngạt vì mùi thức ăn xông lên, vợ chồng bá tước Đơ Brêvin và ông bà Carê Lamađông, phải chịu cái tội cực hình ghê gớm xưa nay vẫn được gọi là tội Tangtan(9). Bỗng chốc bà vợ trẻ của ông chủ nhà máy thốt lên một tiếng thở hắt khiến mọi người phải quay đầu lại, mặt bà ta trắng bệch chẳng khác gì tuyết ở bên ngoài, hai mắt bà nhắm lại, đầu gục xuống: bà ngất đi. Ông chồng hoảng hốt cầu cứu tất cả mọi người. Ai nấy đang hoang mang không biết làm thế nào thì bà phước có tuổi nhất đã nâng đầu người ốm lên, ghé miệng cốc của Viên Mỡ Bò vào môi bà Carê Lamađông và đổ cho bà ta nuốt vài giọt rượu vang. Bà mệnh phụ xinh đẹp khẽ cựa mình, mở mắt ra, mỉm cười, và nói với một giọng lả đi như sắp chết là giờ bà ta đã thấy dễ chịu nhiều. Nhưng để cho chuyện đó khỏi tái diễn, bà phước bắt buộc bà ta phải uống hết một cốc rượu vang đỏ và nói thêm: “Đó chỉ là vì đói thôi, chẳng phải chuyện gì khác đâu.”
Thế là Viên Mỡ Bò đỏ mặt và lúng túng, nhìn bốn vị khách còn nhìn đói, ấp úng nói: “Trời ơi, giá tôi dám đường đột mời mấy quý ông quý bà đó…” Cô ta im bặt, sợ lỡ lời xúc phạm chăng. Loadô lên tiếng: “Ôi chà, trong những lúc như thế này mọi người đều là anh em cả và phải giúp đỡ lẫn nhau. Nào thôi, các bà xin đừng khách khí, các bà cứ nhận lời đi, chứ còn gì nữa! Chưa chắc chúng ta có tìm được nhà ngủ đêm không. Xe chạy như thế này thì đến mai cũng chưa đến được Tôtơ đâu”. Mọi người phân vân, không ai dám nhận cái trách nhiệm nói “vâng”. Nhưng ông bá tước to béo còn đang ngỡ ngàng e sợ, và lấy cái vẻ đại gia quí tộc nói với cô ta: “Thưa bà, chúng tôi xin nhận lời và chịu ơn bà”.
Chỉ có bước đầu là khó. Vượt qua sông Ruybicông(10), người ta cứ việc tự do thả cửa. Cái làn được dốc ra hết. Nó còn đựng một xúc Ba-tê gan bọc mỡ, một cái chả chim(11), một miếng lưỡi lợn sấy, mấy quả lê vùng Cratxanơ, một tảng phó mát Pông-Lêvêch, những bánh bỏ lò và một chén đầu dưa chuột và hành ngâm giấm vì Viên Mỡ Bò, cũng như mọi người phụ nữ, rất thích rau dưa sống.
Không thể cứ ăn của cô mà không nói gì với cô. Thế là người ta trò chuyện, mới đầu còn dè dặt, rồi sau cởi mở hơn, vì thấy cô ta có thái độ rất đứng đắn. Hai bà Đơ Brêvin và Carê Lamađông vốn rất lịch thiệp, đã tỏ ra niềm nở, tế nhị. Nhất là bà bá tước có cái vẻ hạ cố đáng yêu của các bà phu nhân đại quí tộc mà không một tiếp xúc nào có thể làm vấy bẩn, và bà đã tỏ ra dễ thương hết sức. Còn mụ Loadô, tâm tình cục súc, thì vẫn lầm lì nói ít mà ăn nhiều.
Tất nhiên mọi người nói chuyện về chiến tranh. Họ kêt những hành động khủng khiếp của bọn Phổ, những hành vi dũng cảm của người Pháp và tất cả bọn người đi trốn ấy đều tỏ lòng kính phục sự can đảm của người khác. Không mấy lúc người ta chuyển sang các câu chuyện riêng tư, và với một xúc động chân thành, với nhiệt tình trong lời nói mà đôi khi các cô gái điếm thường có để diễn đạt những kích động tự nhiên của mình. Viên Mỡ Bò kể lại cô đã bỏ Ruăng ra đi như thế nào: “Mới đầu tôi đã tưởng là tôi có thể ở lại được, cô nói. Nhà tôi đầy lương thực, và tôi muốn thà nuôi vài tên lính còn hơn bỏ xứ sở mà đi chẳng biết nơi nào. Nhưng đến khi tôi trông thấy chúng, bọn Phổ ấy, thì thực tôi không chịu nổi! Chúng làm tôi điên tiết, và suốt ngày tôi cứ khóc vì tủi hổ. Ồ! Giả thử tôi là một người đàn ông, thì khỏi phải nói! Tôi đứng trong cửa sổ nhìn chúng, bọn lợn ỉ đội mũ chóp nhọn ấy, và cô ở nhà tôi cứ giữ rịt lấy tay tôi để ngăn không cho tôi quẳng đồ đạc vào đầu chúng. Rồi có những thằng vác mặt đến để ở nhà tôi, thế là tôi nhảy xổ ra bóp ngay cổ họng thằng đầu tiên. Bóp chết chúng cũng chẳng khó khăn gì hơn những thằng khác! Và nếu người ra không nắm tóc lôi tôi ra thì thằng ấy đã đi đời rồi. Sau đó tôi phải lẩn trốn. Cuối cùng, nắm được cơ hội, tôi đi liền, vì thế nên mới có mặt ở đây”.
Mọi người khen ngợi cô rất nhiều. Cô càng được những người bạn đường quí trọng thêm, họ đã không tỏ ra gan dạ được như thế và trong khi nghe cô, Cornuyđê giữ nguyên nụ cười tán thành và đại độ của nhà truyền đạo, chẳng khác gì một vị linh mục nghe một người sùng tín ca ngợi Chúa, vì những nhà dân chủ lâu dài vẫn giữ độc quyền về lòng yêu nước cũng như những người mặc áo thầy tu giữ độc quyền về tôn giáo vậy. Rồi đến lượt y nói với cái giọng thuyết giáo khoa trương học được ở những bản tuyên ngôn người ta vẫn dán hằng ngày lên tường, và y kết thúc bằng một thiên hùng biện trong đó y phết cho cái tên “Bađanhghê(12) chó má kia” một trận ra trò.
Nhưng Viên Mỡ Bò liền nổi giận vì cô theo phái Bônapac(13). Mặt cô đỏ như gấc chín(14) và lắp bắp không ra lời vì phẫn nộ. “À phải! Cứ để bọn các ông vào địa vị ông ta coi thử xem. Rồi hay hớm đáo để ra đấy, đúng thế! Chính các ông đã phản bội ông ta! Nếu để cái đám lêu lổng chơi bời như các ông cai trị thì người ta chỉ còn có việc bán xới nước Pháp mà đi thôi!”. Cornuyđê không nao núng, vẫn giữ một nụ cười khinh khỉnh bề trên nhưng cảm thấy đôi bên sắp đến lúc nặng lời, ông bá tước vội xen vào và khó khăn lắm mới làm dịu được cô gái đang nổi khùng.Ông tuyên bố một cách kẻ cả rằng tất cả mọi ý kiến thành thật đều đáng kính trọng. Song bà bá tước và bà chủ nhà máy, vốn mang trong tâm hồn lòng căm ghét mê muội của hạng người nền nếp đối với nền cộng hòa, và cái lòng quí mến tự nhiên của mọi người phụ nữ đối với những chính phủ bề thế và chuyên chế, hai bà tuy không thích, nhưng đều cảm thấy gần gũi cô gái điếm đầy tự trọng nọ, sao mà có những cảm nghĩ giống các bà đến thế.
Cái làn đã rỗng tuếch. Mười miệng làm cho nó vơi cạn đi cũng chẳng khó khăn gì.Người ta còn tiếc rẻ sao nó chẳng được to hơn nữa. Chuyện trò vẫn tiếp tục hồi lâu, nhưng cũng nhạt dần đi đôi chút sau khi mọi người đã ăn xong.
Đêm buông xuống, bóng tối dần dần thêm dầy đặc, và cái lạnh càng thấy thấm thía hơn trong khi tiêu hóa khiến Viên Mỡ Bò, mặc dù béo, cũng phải run lên. Bà Đơ Brêvin bèn mời cô dùng cái lồng ấp của mình, được thay than đã mấy lần từ sáng đến giờ và cô nhận lời ngay, vì cô cảm thấy chân lạnh cứng. Các bà Carê Lamađông và Loadô thì đưa lồng ấp của mình cho hai bà phước.
Bác xà ích đã thắp đèn kính lên. Đèn soi sáng rực một làn hơi nước bốc lên trên bộ mông đẫm mồ hôi của đôi ngựa bên càng xe, và mặt tuyết hai bên đường dường như đang trải ra lần lần dưới ánh phản chiếu di động của ánh sáng đèn.
Chẳng còn nhìn rõ thấy gì trong xe nữa, nhưng đột nhiên có một cử động giữa Viên Mỡ Bò và Cornuyđê, và Loadô với con mắt soi mói vào bóng tối, hình như thấy anh chàng rậm râu né mạnh người đi, tựa hồ bị một quả thụi nên thân lặng lẽ tống vào người.
Những đóm lửa nhỏ hiện ra trên đường, phía trước mặt. Đó là Tôtơ. Xe đã đi mười một giờ, cộng với hai giờ cho ngựa nghỉ bốn lấn để ăn thóc và lấy lại sức, thế là mười ba giờ. Xe đi vào thị trấn dừng lại trước khách sạn Thương Mại.
Cửa xe mở ra. Một tiếng động quen thuộc làm mọi hành khách giật mình, đó là tiếng vỏ gươm chạm xuống đất. Lập tức có tiếng một tên Đức thét lên câu gì đó.
Mặc dù xe đã đứng yên, chẳng ai bước xuống, như thể sợ ra khỏi xe sẽ bị giết chết. Rồi người đánh xe xuất hiện, tay cầm chiếc đèn kính đột nhiên dọi chiếu vào đến tận cùng xe, hai dãy mặt người hốt hoảng, mồm há hốc và mắt trợn trừng vì ngạc nhiên và sợ hãi.
Đứng bên bác xà ích, giữa ánh sáng, là một tên sĩ quan Đức, một gã thanh niên cao lớn, hết sức mảnh dẻ và tóc vàng, bộ quân phục bó chặt lấy ngườI như một cô gái mặc áo nịt chẽn, trên đầu đội lệch chiếc mũ lưỡi trai phẳng và bóng láng, khiến y giống anh hầu bàn ở một khách sạn Anh-cát-lợi. Bộ ria quá khổ của y, với những sợi ria dài, thẳng đuột, cứ thưa dần mãi ở hai bên và xe vút lại thành một sợi độc nhất màu vàng, và quá nhỏ, thành thử không nhìn thấy rõ nó dài tới đâu là hết, dường như nó đè lên hai bên mép, và kéo sếch má, in lên đôi môi một nếp nhăn trễ xuống.
Y dùng tiếng Pháp vùng Anđaxơ, giọng cứng nhắc, mời các hành khách ra khỏi xe; Quí ông, quí bà, các vị xuống xe đi chứ!
Hai bà phước tuân lệnh đầu tiên với thái độ dễ bảo của các bà tu hành vốn quen chịu mọi sự phục tùng. Rồi đến ông bà bá tước, theo sau là vợ chồng ông chủ nhà máy, rồi đến Loadô vừa đi vừa đẩy mụ vợ to béo đi trước. Vừa đặt chân xuống đất, hắn nói với tên sĩ quan: “Xin chào đức ông!” vì thận trọng nhiều hơn là vì lễ phép. Tên Đức hỗn xược như những kẻ oai quyền hống hách, chỉ nhìn hắn mà không đáp. Viên Mỡ Bò và Cornuyđê, tuy ngồi gần cửa xe nhưng bước xuống sau cùng, nghiêm trang và kiêu kỳ trước mặt quân thù. Cô gái to béo cô tự kiềm chế và giữ bình tĩnh, nhà dân chủ thì đưa bàn tay bi đát và hơi run run lên mân mê bộ râu dài hung đỏ. Họ muốn giữ gìn phẩm cách, vì họ hiểu rằng trong những cuộc gặp gỡ như thế này mỗi người đều phần nào đại diện cho nước mình, và cùng chung một nỗi bất bình đối với thái độ quá mềm dẻo của các bạn đồng hành, cô ta cứ cố tỏ ra kiêu hãnh hơn đám đàn bà lương thiện ngồi bên, còn anh chàng kia cảm thấy mình cần phải nêu gương, trong toàn bộ thái độ của mình phải tiếp tục cái sứ mệnh phản kháng đã bắt đầu từ lúc đi phá hoại đường sá.
Mọi người vào cả nhà bếp rộng của quán trọ, và tên Đức sau khi bắt đưa trình giấy thông hành do viên tướng tổng tư lệnh ký và trong đó có ghi tên tuổi, nhận dạng và nghề nghiệp của mỗi hành khách, y ngắm nghía hồi lâu tất cả đám người này, so sánh từng người với những chỉ dẫn ghi trong giấy.
Rồi đột ngột nói: “Được rồi!”, và biến mất.
Mọi người thở ra nhẹ nhõm. Ai nấy đều còn đói và đặt ngay bữa ăn tối. Cần phải mất nửa giờ mới dọn ăn được, và trong khi hai cô hầu bàn ra vẻ chăm lo việc ấy, mọi người đi thăm các phòng ngủ. Tất cả các phòng đều nằm dọc theo một hành lang dài, tận cùng là một cửa kính trên có ghi “con số biết nói”(15)
Sau cùng, khi mọi người sắp sửa ngồi vào bàn ăn thì chính chủ quán xuất hiện. Lão ta trước kia là một lái ngựa, người to béo, mắc bệnh hen, lúc nào cũng khò khè, giọng khản đặc, tiếng đờm xiển rít trong cổ họng. Bố lão ta đã truyền lại cho lão cái tên Fonlăngvi(16). Lão ta hỏi:
– Cô Elizabet Ruxê?
Viên Mỡ Bò giật mình quay lại:
– Tôi đây
– Thưa cô, ngài sĩ quan Phổ muốn nói chuyện với cô ngay.
– Với tôi?
– Vâng, nếu cô đúng là Elizabet Ruxê.
Cô ta bối rối, suy nghĩ một giây, rồi nói dứt khoát.
– Có thể là thế, nhưng tôi không đi.
Chung quanh cô ta mọi người nhao nhao cả lên, ai nấy đều bàn tán, đoán hiểu nguyên nhân của lệnh nọ. Ông bá tước lại gần:
– Thưa bà, như thế là bà sai trái đấy, vì bà mà từ chối thì có thể đem lại những trở ngại lớn, không những cho bà, mà còn cho tất cả các bạn đồng hành của bà nữa. Không bao giờ nên cưỡng lại những kẻ mạnh hơn ta. Lời yêu cầu đó chắc không có gì nguy hiểm đâu: ý hắn chỉ vì quên một thủ tục nào đó thôi.
Tất cả mọi người hùa theo ông bá tước, người ta van nài, người ta thúc giục, người ta quở trách cô, và cuối cùng người ta thuyết phục được cô vì tất cả đều lo sợ những chuyện rắc rối có thể xảy ra vì một hành động liều lĩnh. Rút cục cô ta nói:
– Chỉ vì các ông các bà mà tôi đi đấy thôi!
Bà bá tước cầm lấy tay cô:
– Và vì thế chúng tôi xin cảm ơn bà.
Cô ta đi ra. Mọi người đợi cô để ngồi bàn ăn. Ai nấy đều lấy làm buồn thay cho cô gái tợm tạo và nóng nảy ấy, và thầm chuẩn bị sẵn những lời khúm núm phòng trường hợp đến lượt mình bị gọi chăng.
Nhưng mười phút sau cô ta đã trở về, thở hổn hển, mặt đỏ gay, tức uất người. Cô lúng búng: “Ồ quân chó má! Quân chó má!”.
Mọi người xúm lại hỏi chuyện, nhưng cô không nói gì hết, và sau ông bá tước gặng mãi, cô trả lời một cách nghiêm trang: “Không, việc này không liên quan gì đến các ông, các bà, tôi không thể nào nói được.
Thế là mọi người quây vào ngồi chung quanh một liễn xúp thơm nức mùi bắp cải. Mặc dầu có chuyện đáng lo nghĩ ấy, bữa ăn cũng vui vẻ. Rượu táo ngon, nên vợ chồng Loadô và hai bà phước dùng rượu táo, để tiết kiệm. Những người khác gọi rượu vang.Cornuyđê thì đòi bia. Y có một lối đặc biệt mở nút chai, làm cho bia sủi bọt, nghiêng cốc nhìn, rồi nâng cốc lên soi qua đèn và dùng mắt thưởng thức kỹ màu sắc. Khi uống, bộ râu rậm của y – nó vẫn giữ cái màu vẻ của món giải khát y ưa chuộng – dường như trìu mến rung lên, mắt y không ngừng theo dõi cốc vại đến thành lác trật, và trông y có vẻ như đang thực hiện cái chức năng duy nhất của đời y. Tưởng chừng như y đang xác lập trong đầu óc một sự kết hợp và hầu như một mối tương quan giữa hai thú say mê lớn choán hết cả cuộc đời y: rượu bia Palơ Alơ và cách mạng và chắc chắn là y không thể nào thưởng thức thứ này mà không nghĩ đến thứ kia.
Vợ chồng lão Fonlăngvi ngồi ăn ở mãi tận cuối bàn. Lão ta thở phì phò như một đầu máy xe lửa vỡ, ngực khò khè mạnh quá nên không thể nào vừa ăn vừa nói được, nhưng vợ lão thì không chịu im miệng lúc nào. Bà ta kể lể mọi cảm tưởng của mình khi bọn Phổ đến, nào chúng làm gì, nào chúng nói gì, bà ghét cay ghét đắng chúng trước hết vì chúng làm cho bà tốn của, và sau nữa là vì bà có hai con trai tại ngũ. Bà hay hỏi chuyện bà bá tước nhất, thích thú được chuyện trò với một phu nhân cao quí.
Rồi và hạ thấp giọng để nói những chuyện tế nhị, và ông chồng thỉnh thoảng lại ngắt lời bà: “Im mồm đi thì hơn, bà Fonlăngvi ạ”. Nhưng bà chẳng để ý gì đến lời chồng, và cứ nói tiếp:
– Vâng thưa bà, cái quân ấy chỉ có ăn khoai tây và thịt lợn, và rồi thịt lợn và khoai tây. Và đừng có tưởng là chúng sạch sẽ gì đâu! Ồ, không! Nói vô phép với bà chứ, chúng bậy bạ ra khắp mọi chỗ. Và giá bà trông thấy chúng tập tành hết giờ này sang giờ khác và hết ngày này sang ngày khác; chúng ra tất cả ngoài cánh đồng kia kìa: nào tiến lên, nào lùi xuống, nào quay đằng này, nào quay đằng nọ. Chẳng thà chúng đi xới đất trồng trọt, hoặc là chúng đi làm đường làm sá ở đất nước chúng! Nhưng không, thưa bà, cái bọn lính tráng ấy, thật chẳng được tích sự gì cho ai hết! Tội cho người dân đáng thương cứ phải nuôi chúng để chúng độc có một cái trò duy nhất là giết chóc! Tôi chỉ là một mụ già vô học thật đấy, nhưng trông thấy chúng xứ giậm chân đến nhọc thần xác, bở hơi tai suốt từ sáng đến tối thì tôi tự bảo: Trong khi có những người phát minh ra bao nhiêu thứ để thành người hữu ích, sao lại có những kẻ tốn công tốn sức để đi gây tội gây hại thế? Quả thật, giết người, dù là người Phổ, hay người Anh, hay người Ba Lan, hay người Pháp đi nữa, chẳng phải là một chuyện gớm ghiếc hay sao? Nếu mình báo thù một kẻ nào đã hãm hại mình thì đó là một việc xấu, vì mình bị kết tội, nhưng khi họ dùng súng ống giết con chúng ta như đi săn chim, săn thú thì lại là chuyện tốt vì người ta chẳng ban thưởng huy chương cho người nào giết được nhiều người nhất đó ư? Không, bà có thấy chăng, thật chẳng bao giờ tôi hiểu nổi điều đó!
Cornuyđê lên tiếng:
– Chiến tranh là một sự dã man khi người ta đánh một người láng giềng đang sống yên lành,nhưng khi ta bảo vệ tổ quốc thì đó là một bổn phận thiêng liêng.
Bà cúi đầu:
– Vâng, khi phải tự vệ thì đó là chuyện khác, nhưng các vua chúa gây ra chiến tranh để thỏa ý của họ, sao người ta không giết chết họ đi có phải hơn không? Mắt Cornuyđê sáng lên:
– Hoan hô, nữ công dân! – Y nói.

Chương 2

Ông Carê Lamađông suy nghĩ rất nhiều. Mặc dầu ông là kẻ cuồng nhiệt tôn sùng các tướng sĩ lừng lẫy chiến công, lương tri của bà nông dân này làm ông nghĩ rằng ngần ấy cánh tay nhàn rỗi, vì vậy trở nên tốn kém, ngần ấy sức lực cứ để cả vào những công trình công nghiệp lớn cần phải hành thế kỷ mới hoàn thành thì sẽ làm cho một nước thịnh vượng biết chừng nào!
Nhưng Loadô rời chỗ ngồi, đi lại nói chuyện thầm thì với chủ quán. Lão to béo phá ra cười, phát ho và khạc nhổ.Cái bụng to tướng của lão cứ khoái trá rung lên vì những câu nói đùa của người bạn ngồi bên, và lão đặt mua ngay của hắn sáu thùng nhỏ rượu vang đỏ cho vụ xuân, khi nào bọn Phổ cuốn xéo.
Ai nấy đều mỏi mệt rã cả nên bữa tối vừa xong, mọi người đi ngủ ngay.
Nhưng Loadô, vì đã để tâm quan sát mọi chuyện, nên sau khi đưa vợ đi nằm, liền lúc thì áp tai, lúc thì dán mắt vào lỗ khóa để cố khám phá cho ra cái mà hắn gọi là “những bí mật của hành lang”.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, hắn nghe có tiếng sột soạt, vội liếc mắt thật nhanh và thấy Viên Mỡ Bò trông càng thêm mập mạp trong chiếc áo choàng Casơmia màu lam viền đăng-ten trắng. Cô ta cầm một đĩa đèn nến đi về phía “con số lớn”(17) ở cuối hành lang. Nhưng một cánh cửa bên hé mở ra, và vài phút sau khi cô ta trở lại thì Cornuyđê đã cởi bỏ áo ngoài, đi theo cô ta liền. Hình như Viên Mỡ Bò kịch liệt chống cự không cho Cornuyđê vào phòng mình. Tiếc thay Loadô không nghe rõ lời nói nhưng cuối cùng, vì họ cất cao giọng lên, hắn ta cũng lõm bõm được vài câu. Cornuyđê ra sức khẩn nài. Y nói:
– Kìa, cô ngốc thật, chuyện đó có làm cô mất gì đâu cơ chứ?
Cô ta có vẻ tức giận và trả lời:
– Không, anh ạ, có những lúc không thể làm được chuyện ấy với lại, ở đây làm thế sẽ là một điều sỉ nhục.
Y hẳn không hiểu, nên y hỏi tại sao. Thế là cô ta nổi nóng, càng nói to hơn:
– Tại sao? Anh không hiểu tại sao à? Trong khi bọn Phổ ở ngay trong nhà, không biết chừng ở ngay phòng bên cạnh ư?
Y im bặt. Cái liêm sỉ yêu nước của cô gái điếm không chịu để cho người ta ân ái bên cạnh quân thù chắc hẳn đã thức tỉnh cái phẩm cách đang suy nhược của y, nên sau khi chỉ ôm hôn cô ta thôi, y lại len lén bước nhẹ trở về phòng mình.
Loadô, bị kích thích mạnh, rời bỏ lỗ khóa, nhãy cỡn lên trong buồng, rồi chụp mũ ngủ vào đầu, nhấc tấm chăn lên, bên dưới nằm sóng sượt bộ thân xác cứng đơ của vợ hắn, mà hắn vừa đánh thức dậy bằng một cái hôn và thầm thì hỏi: “Em có yêu anh không, em yêu quí?”.
Thế rồi cả ngôi nhà trở nên im lặng. Nhưng không mấy chốc bỗng nổi lên ở đâu đấy, về một phía nào không rõ, có thể là ở dưới hầm rượu mà cũng có thể là ở trên gác xép, một tiếng ngáy rất to, đơn điệu, đều đều, một thứ tiếng âm ỉ và kéo dài, rung lên như nồi súp-de đang tức hơi. Lão Fonlăngvi ngủ.
Vì mọi người đã định tám giờ sáng hôm sau thì lên đường, nên tất cả đều có mặt trong nhà bếp, song chiếc xe, tuyết phủ đầy mui vải thành một cái mái, vẫn đứng trơ trọi giữa sân, chẳng thấy ngựa mà cũng chẳng thấy người đánh xe đâu cả. Đi tìm trong các chuồng ngựa, trong buồng cỏ, trong nhà xe cũng không thấy bác ta. Thế là cánh nam giới quyết định đi lùng khắp trong vùng, và họ ra phố. Họ tới quảng trường, phía cuối quảng trường là nhà thờ, và hai bên là những căn nhà thấp ở đấy thấy có những tên lính Thổ. Tên thứ nhất họ trông thấy đang gọt khoai. Xa quá tí nữa, tên thứ hai đang cọ rửa cửa hiệu hớt tóc. Một tên khác, râu ria xồm xoàm lên tới mắt, thì ẵm một đứa trẻ đang khóc và đứng đưa nó trên đầu gối cố làm cho nó nín, các bà nông dân to béo, mà chồng đều “ở quân đội đi đánh nhau”, ra hiệu chỉ cho những kẻ chiến thắng ngoan ngoãn của họ hiểu công việc phải làm: bổ củi, dầm bánh mì vào xúp, xay cà phê, một tên trong bọn lại còn giặt cả quần áo cho chủ nhà nữa, một bà cụ già tàn tật.
Ông bá tước ngạc nhiên hỏi ông bõ ở nhà chung đi ra. Ông già ngoan đạo trả lời: “Ồ, những đứa này thì không ác: Theo như người ta nói thì chúng không phải là quân Phổ. Chúng ở xa hơn kia, tôi không rõ là ở đâu, và chúng đều bỏ vợ con ở lại quê hương, cái trò chiến trận chúng chẳng thích thú gì đâu, thật đấy! Tôi chắc là ở bên ấy họ cũng khóc nhớ người đàn ông ra đi, và chiến tranh cũng sẽ gây cực khổ ra trò cho bên họ cũng như bên mình. Ở đây, được cái hiện giờ mọi người cũng chưa đến nỗi khổ quá, vì chúng không làm điều gì ác hại, và chúng lao động cũng như ở nhà chúng vậy. Ông xem đấy, giữa những người nghèo khổ cũng phải biết giúp đỡ nhau chứ…Chỉ có nhưng ông lớn là đánh nhau thôi”.
Cornuyđê, bất bình vì thấy có sự liên minh thân thiện giữa những kẻ thắng và kẻ bại, rút lui ngay, về ngồi trong nhà trọ, Loadô nói một câu pha trò: “Chúng làm cho dân cư đông đúc lại đấy”. Ông Carê Lamađông thì nói một câu trịnh trọng: “Chúng chuộc lỗi”. Nhưng vẫn không thấy bác xà ích đâu. Sau cùng mới tìm ra bác ta ở quán cà phê trong làng, chén chú chén anh với người lính hầu của tên sĩ quan. Ông bá tước cự:
– Chúng tôi đã ra lệnh cho bác thắng xe để đi tám giờ kia mà?
– À, phải rồi, nhưng sau đó tôi lại nhận được một lệnh khác.
– Lệnh gì?
– Là chẳng thắng xe thắng xiếc gì hết.
– Ai ra lệnh cho bác ấy?
– Ông tư lệnh Phổ, chứ còn ai?
– Tại sao?
– Nào tôi biết! Ông đi mà hỏi ông ấy. Người ta cấm tôi thắng xe thì tôi không thắng. Như vậy đấy.
– Chính ông ta đã bảo bác thế à?
– Không, thưa ông: đó là chủ quán truyền lại lệnh của ông ta cho tôi.
– Bao giờ?
– Đêm qua, lúc tôi sắp đi ngủ.
Ba người quay về rất lo lắng.
Họ yêu cầu gặp lão Fonlăngvi, nhưng chị người ở đáp lại vì chứng hen, chẳng bao giờ lão ra dậy trước mười giờ. Lão lại còn cấm tuyệt không được đánh thức lão sớm hơn, trừ phi cháy nhà.
Họ muốn gặp tên sĩ quan, nhưng điều đó thì tuyệt đối không thể được, mặc dầu y ở ngay trong nhà trọ. Chỉ có một mình lão Fonlăngvi là được phép nói chuyện với y về mọi việc dân sự. Thế là họ phải đợi. Các bà lại trở về phòng và làm những việc phù phiếm cho qua giờ.
Cornuyđê ngồi vào chỗ lò sưởi cao của nhà bếp, lửa cháy đỏ rực. Y đã gọi mang tới đấy một chiếc bàn con của quán rượu với một chai bia, và y rít tẩu thuốc, cái tẩu được các nhà dân chủ vì nể gần ngang với y, tựa hồ nó phục vụ Cornuyđê là đã phục vụ tổ quốc vậy. Chiếc tẩu rất đẹp, bằng đá bọt, cặn thuốc bám rất đều, cũng đen như răng của chủ nó, nhưng mà thơm, uốn cong, bóng nhoáng, quen thuộc với bàn tay y, và bổ sung cho diện mạo y. Y ngồi yên lặng, mắt đăm đăm khi nhìn lửa, khi thì nhìn cái vành bọt bia trong chiếc cốc vại, và cứ mỗi lần uống xong, y lại lùa những ngón tay gầy guộc vào mớ tóc dài bóng nhẩy với một vẻ khoái trá, mũi hít hít bộ ria mép viền bọt bia.
Loadô lấy cớ là để cho khỏi cuồng cẳng, đi đến các nhà bán rượu lẻ trong vùng chào bán rượu vang. Bà bá tước và ông chủ nhà máy xoay ra nói chuyện chính trị. Họ dự đoán về tương lai nước Pháp. Một người tin tưởng ở dòng họ Orlêăng, người kia tin tưởng vào một vị cứu tinh vô danh, một vị anh hùng mãi đến lúc mọi sự đều tuyệt vọng mới xuất đầu lộ diện: một Đuy Ghetxclanh(18), một Jan Đac(19) không biết chừng? hay một Napôlêông đệ nhất khác? Ồ! Giả thử hoàng thái tử không đến nỗi còn măng sữa như vậy! Cornuyđê nghe họ nói chuyện, mỉm cười ra vẻ con người hiểu biết vận mệnh chung sẽ ra sao. Tẩu thuốc của y tỏa khói thơm nực nhà bếp.
Khi mười giờ đã điểm, lão Fonlăngvi xuất hiện. Mọi người vội vã hỏi lão, nhưng lão chỉ có thể nhắc đi nhắc lại hai ba lần, không sai một chữ, mấy lời như sau: “Ngài sĩ quan đã bảo tôi thế này: Ông Fonlăngvi, ông sẽ cấm không cho xe của bọn hành khách ấy thắng ngựa sáng mai. Tôi không muốn ho ra đi mà không có lệnh của tôi. Ông hiểu chứ? Thế là đủ”.
Mọi người liều muốn gặp tên sĩ quan. Bá tước gửi danh thiếp của ông lên cho y, trên đó ông Carê Lamađông ghi thêm tên với tất cả mọi chức vị của mình. Tên Phổ cho người trả lời rằng y sẽ cho phép hai người được nói chuyện với y khi nào y ăn xong bữa sáng, nghĩa là vào khoảng một giờ.
Các bà lại ra mặt và mặc dầu lo sợ ai nấy cũng ăn qua loa chút ít. Viên Mỡ Bò có vẻ ốm và hết sức bối rối.
Uống xong cà phê thì tên lính hầu đến tìm hai ông.
Loadô nhập bọn với họ. Muốn cho cuộc vận động thêm phần trang trọng, họ cố lôi kéo Cornuyđê, nhưng y kiêu hãnh tuyên bố nhất định không bao giờ muốn có quan hệ gì với bọn Đức, và y lại ngồi vào chỗ bên cạnh lò sưởi, gọi một chai khác.
Ba người lên gác và được đưa vào căn phòng đẹp nhất của nhà trọ. Tên sĩ quan tiếp họ ở đấy, nằm ngả người trên một chiếc ghế bành, chân gác lên lò sưởi, miệng ngậm tẩu thuốc dài bằng sứ, mình mặc một chiếc áo ngủ đỏ rực, chắc là xoáy trong nhà bỏ trống của một thị dân rởm nào đó. Y không đứng dậy, không chào họ, không nhìn họ. Y thể hiện một kiểu mẫu tuyệt vời về thói thô bạo đương nhiên của kẻ nhà binh đắc thắng.
Mãi một lúc lâu y mới nói:
– Các ông muốn gì?
Ông bá tước lên tiếng:
– Thưa ngài, chúng tôi muốn lên đường.
– Không.
– Tôi xin mạn phép hỏi ngài có thể cho biết lý do vì sao đuợc không ạ?
– Bởi vì tôi không muốn.
– Thưa ngài, tôi xin kính cẩn lưu ý ngài rằng đại tướng tổng tư lệnh của ngài đã cấp cho chúng tôi giấy thông hành đi Dieppe, và tôi nghĩ chúng tôi chưa hề làm gì đáng để ngài khe khắt.
– Tôi không muốn…có thế thôi…Các ống có thể đi xuống.
Sau khi cúi chào, cả ba người rút lui.
Buổi chiều thật thê thảm. Họ chẳng hiểu tại sao tên Đức lại có cái ý bất chợt ấy, và những ý nghĩ kỳ quặc làm rối loạn đầu óc họ. Mọi người ngồi cả vào bếp, bàn cãi mãi, tưởng tượng ra những chuyện vô lý. Có lẽ y muốn giữ họ làm con tin,nhưng nhằm mục đích gì?- hoặc đưa họ đi cầm tù? Hay là đòi họ một số tiền chuộc lớn? Nghĩ như vậy, họ đâm hoảng. Những người giàu có nhất là những người sợ hãi nhất, chưa chi đã thấy mình bắt buộc phải nộp những túi đầy vàng vào tay tên lính láo xược này để chuộc tính mạng. Họ cố moi óc tìm những câu nói dối tạm nghe được để che giấu của cải, làm ra bộ nghèo, rất nghèo. Loadô tháo đồng hồ, giấu trong túi. Trời đổ tối, càng tăng thêm những nỗi lo sợ. Đèn thắp lên, và còn hai tiếng đồng hồ nữa mới đến bữa ăn, mụ Loadô đề nghị chơi bài ba- mươi-mốt(20). Đó là cách giải trí. Mọi người nhận lời. Ngay cả Cornuyđê, sau khi giụi tẩu thuốc đi và lịch sự, cũng tham dự.
Ông bá tước trang bài, rồi chia Viên Mỡ Bò được ngay ba-mươi-mốt; và không mấy chốc thú chơi bài cũng làm cho nỗi lo sợ ám ảnh mọi tâm trí dịu bớt đi. Nhưng Cornuyđê nhận thấy vợ chồng nhà Loadô thông đồng với nhau để chơi gian.
Lúc mọi người sắp ngồi vào ăn thì lão Fonlăngvi lại xuất hiện, và hỏi bằng cái giọng khò khè đòm trong cổ: “Ngài sĩ quan Phổ cho hỏi xem cô Elizabet Ruxô đã thay đổi ý kiến chưa”.
Viên Mỡ Bò vẫn đứng đó, mặt tái nhợt rồi đột nhiên đỏ gay lên, cô tức uất đến nỗi nghẹn không nói được nữa. Sau cùng cô nổ ra: “Ông hãy bảo cái thằng chó chết, cái thằng thổ tả, cái thằng Phổ thối thây ấy, rằng không đời nào tôi muốn đâu ông nghe rõ chưa, không đời nào, không đời nào, không đời nào!”.
Lão chủ quán béo phệ đi ra. Mọi người liền vây lấy Viên Mỡ Bò, hỏi han, nài nỉ cô nói ra câu chuyện bí mật khi cô đi gặp tên Đức. Mới đầu cô còn cưỡng, nhưng không mấy chốc sự tức giận đã lôi cuốn cô: “Nó muốn gì?…Nó muốn gì à?…Nó muốn ngủ với tôi!”. Cô hét lên. Không ai thấy câu nói ấy là chói tai, vì mọi người đều phẫn nộ. Cornuyđê dằn mạnh chiếc cốc vại, làm chiếc cốc vỡ tan. Tiếng la ó nổi lên ầm ĩ phỉ nhổ cái tên lính bỉ ổi ấy.Thật là cả một luồng nộ khí, một sự đoàn kết chặt chẽ giữa mọi người để phản kháng, tựa hồ người ta đã yêu cầu mỗi người phải góp phần vào sự hy sinh đòi hỏi của cô gái. Bá tước ghê tởm nói rằng bọn ấy hành động như những kẻ dã man thời cổ. Đặc biệt các bà có một thái độ mạnh mẽ và trìu mến thông cảm với Viên Mỡ Bò. Hai bà phước, chỉ đến bữa ăn mới có mặt, thì cúi đầu xuống chẳng nói chẳng rằng.
Tuy nhiên, mọi người cũng ăn bữa tối, khi sự tức giận ban đầu đã dịu đi, nhưng ai nấy đều suy nghĩ, ít nói.
Các bà lui về phòng sớm, còn các ông, trong khi hút thuốc, bày ra chơi bài các-tê và mời lão Fonlăngvi cùng chơi, có ý muốn hỏi khéo lão xem có cách nào khắc phục được thái độ khăng khăng của tên sĩ quan không. Nhưng lão chỉ nghĩ đến bài, chẳng nghe gì hết, chẳng đáp gì hết và lão không ngớt nhắc đi nhắc lại: “Để ý vào bài, các vị, để ý vào bài”. Sự chăm chú của lão căng thẳng đến nỗi lão quên cả khạc nhổ, thành thử đôi khi vì thế trong ngực khò khè những nốt nhạc rất dài. Hai lá phổi của lão réo lên, phát ra đầy đủ giai điệu của chứng hen, từ những tiếng trầm và sâu đến những tiếng khàn khàn the thé của con gà trống non học gáy.
Thậm chí khi vợ lão buồn ngủ rũ, đến tìm lão, lão cũng không chịu lên gác nữa. Thế là bà ta đi lên một mình, vì bà thiên về “buổi sớm”, bao giờ cũng dậy khi mặt trời mọc, còn đức ông chồng thì thiên về “buổi tối”, bao giờ cũng sẵn lòng thức thâu đêm với bạn hữu. Lão ta nói to bảo vợ: “Mình đặt hâm cốc trứng đường của tôi lên bếp nhé” và lại tiếp tục chơi bài. Khi thấy rõ chẳng thể nào moi được ở lão điều gì, mọi người bèn tuyên bố đã đến lúc giải tán, và ai nấy đi ngủ.
Sáng hôm sau họ cũng lại dậy khá sớm với một hy vọng mơ hồ, một ý muốn đi mạnh hơn, một nỗi khiếp sợ phải kéo thêm một ngày dài đằng đẵng nữa ở cái quán trọ nhỏ kinh khủng này.
Hỡi ôi! Ngựa vẫn ở trong chuồng, người đánh xe chẳng thấy mặt đâu. Vô công rỗi nghề, họ đi vớ vẩn chung quanh.
Bữa ăn sáng thật buồn rười rượi, và ai nấy cơ hồ lạnh nhạt đối với Viên Mỡ Bò.Vì ban đêm giúp cho đầu óc thêm sáng suốt, đã thay đổi ý nghĩ của mỗi người đi chút ít. Bây giờ người ta hầu như bực tức với cô gái đĩ ấy, vì nỗi đã không chịu lẻn đi gặp thằng Phổ, để cho các bạn đồng hành sáng dậy được một sự ngạc nhiên thú vị. Còn gì đơn giản hơn nữa? Mà có ai biết chuyện ấy đâu cơ chứ? Để vớt vát sĩ diện, cô ta có thể cho nói với tên sĩ quan rằng cô động lòng thương hại tình cảnh khốn đốn của họ. Đối với cô ta cái đó chẳng có quan trọng gì mấy!
Nhưng chưa ai thổ lộ những ý nghĩ ấy ra vội!
Buổi chiều, ai nấy đều ngán ngẩm, ông bá tước bèn đề nghị một cuộc đi chơi quanh làng. Người nào cũng mặc áo ấm cẩn thận, và cả cái đám người ấy ra đi, chỉ trừ có Cornuyđê, ưng ngồi bên bếp lửa hơn, và cả hai bà phước, suốt ngày ở nhà thờ hay ở nhà cha xứ.
Cái rét càng ngày càng buốt, đêm nhói dữ dội vào mũi, vào tai,chân tê buốt đến nỗi mỗi bước đi là một sự đau đớn, và khi cánh đồng quê hiện ra thì họ thấy nó thê lương quá đỗi dưới một màu trắng mênh mông vô tận, thành thử mọi người quay trở về ngay, tâm hồn giá lạnh và lòng se lại.
Bốn người đàn bà đi trước, ba người đàn ông theo sau, cách nhau hơi xa chút ít.
Loadô hiểu biết tình thế, đột nhiên lên tiếng hỏi không biết “con đĩ” ấy liệu có còn bắt họ phải ở lại một nơi như thế này lâu nữa không. Ông bá tước, bao giờ cũng nhã nhặn, nói không thể nào bắt một người đàn bà phải chịu một sự hy sinh nặng nề như vậy, và cái đó phải do chính cô ta tự nguyện. Ông Carê Lamađông nhạn xét rằng nếu quân Pháp, như đang có tin đồn đại, quay lại phản công qua Đieppơ thì hai bên chỉ có thể đụng nhau ở Tôtơ thôi. Điều suy nghĩ ấy khiến hai ông kia lo lắng. “Hay ta đi bộ mà bỏ trốn”. Loadô nói. Bá tước nhún vai: “Ông nghĩ thế được ư, dưới trời tuyết này? với các bà nhà ta? Và rồi ta sẽ bị đuổi theo ngay, chỉ trong mười phút là bị bắt lại và bị lôi về cầm tù cho bọn lính tha hồ hành hạ”. Cái đó đúng và mọi người nín lặng.
Các bà nói chuyện ăn mặc, nhưng dường như có một sự gượng ép nào đấy chia rẽ họ.
Bỗng tên sĩ quan xuất hiện ở đầu phố. Trên mặt tuyết mênh mông đến tận chân trời, y in rõ cái thân hình to lớn lưng ong, mặc quân phục, và đi dạng hai đầu gối theo kiểu đi đặc biệt của bọn nhà binh cố giữ cho khỏi vấy bẩn đôi ủng đánh xi rất kỹ.
Y nghiêng mình chào khi đi qua các bà, và ngạo nghễ nhìn đám đàn ông. Được cái các ông cũng biết giữ phẩm cách không ngã mũ, tuy Loadô thoáng có vẻ chỉ muốn bỏ mũ ra.
Viên Mỡ Bò đỏ mặt lên đến tận mang tai còn hai bà có chồng thì cảm thấy nhục nhã phải chạm trán với tên lính ấy, trong lúc đang đi với cô gái đĩ đã bị y đối xử một cách sống sượng đến thế.
Thế là các bà nói chuyện về y, về điệu bộ và khuôn mặt y. Bà Carê Lamađông vốn quen biết nhiều sĩ quan và nhận xét họ ra vẻ người sành sõi, thấy y chẳng có gì là khó coi hết. Bà còn lấy làm tiếc sao y lại không phải là người Pháp, y có thể là một tay khinh kỵ rất điển trai, mà tất cả các bà hẳn sẽ cứ là mê tít.
Về đến nhà rồi, họ chẳng còn biết làm gì nữa. Thậm chí nói những chuyện không đâu vào đâu mà cũng có những lời qua tiếng lại cay chua. Bữa ăn tối lặng lẽ kết thúc rất chóng, rồi ai nấy lên buồng đi nằm, hy vọng ngủ được để giết thì giờ.
Hôm sau ở trên gác xuống, mọi người đều mặt mày phờ phạc, trong lòng bực tức. Các bà hầu như chẳng buồn nói chuyện với Viên Mỡ Bò nữa.
Một tiếng chuông ngân lên. Đó là chuông báo lễ rửa tội. Cô gái béo mập có một đứa con gái nuôi ở nhà nông dân tại Yvơtô. Hàng năm cô chẳng đi thăm nó được một lần, và cũng chẳng nghĩ đến chuyện ấy bao giờ, nhưng ý nghĩ về đứa bé mà người ta sắp rửa tội chợt khiến cô chạnh lòng, đột ngột cảm thấy thương con mình da diết, và nhất định muốn đi dự buổi lễ cho kỳ được.
Cô vừa đi xong, mọi người liền nhìn nhau rồi ai nấy nhích ghế lại, vì họ đều cảm thấy rõ cuối cùng rồi cũng phải quyết định một cái gì. Loadô nảy ra một ý kiến: hắn nghĩ nên đề nghị với tên sĩ quan chỉ giữ lại một mình Viên Mỡ Bò, còn cho những người khác đi.
Lão Fonlăngvi lại đảm nhận việc ủy thác ấy, nhưng chưa mấy chốc lão đã quay xuống ngay. Tên Đức, vốn biết rõ bản chất con người, đã tống lão ra cửa. Y nhất định giữ cả mọi người ở lại, chừng nào ý muốn của y chưa được thỏa mãn.
Thế là tính khí hạ lưu của mụ Loadô bùng nổ: “Chẳng lẽ chúng ta lại chết già ở đây sao? Nghề của cái con khốn nạn ấy là làm việc đó với tất cả mọi người, tôi thấy nó chẳng có quyền ưng người này, từ chối người kia. Tôi xin hỏi các vị, cái của ấy đã vơ vào bất cứ ai ở Ruăng, cả đến những thằng đánh xe của tòa quận trưởng! Tôi, tôi biết rõ lắm, hắn mua rượu vang ở nhà tôi. Ấy thế mà bây giờ cần đưa chúng ta ra khỏi bước lúng túng, thì cái con thổ tả ấy lại còn ỏng ẹo!…Tôi, thì tôi thấy ông sĩ quan ấy xử sự rất đúng đắn. Có lẽ ông ta bị thiến thốn đã lâu ngày, ở đây có ba chúng mình mà chắc chắn ông ta phải ưng hơn. Nhưng không, ông ta chỉ chọn cái con của chung cho thiên hạ. Ông ta tôn trọng đàn bà có chồng. Các bà thử nghĩ xem, ông ta là chúa tể. Ông ta chỉ cần nói: “Tôi muốn” là có thể cho quân lính dùng vũ lực mà bắt buộc chúng mình được lắm chứ”.
Hai bà khẽ rùng mình. Đôi mắt của bà Carê Lamađông xinh đẹp sáng lên, và bà hơi tái mặt đi, tựa hồ như đã thấy tên sĩ quan dùng võ lực cưỡng bức bà.
Phía các ông, đang bàn lẻ, ngồi chụm lại với nhau. Loadô tức tối, nhưng muốn trói gô cái “con khốn nạn ấy” lại đem nộp cho kẻ thù. Song bá tước, dòng dõi ba đời sứ thần, và được trời phú cho cái dáng dấp con nhà ngoại giao, chủ trương nên khéo léo: “Phải làm cho cô ta quyết định”, ông nói.
Thế là mọi người mưu mô tính kế.
Các bà ngồi sát lại, giọng hạ thấp xuống, và việc bàn bạc trở thành bàn bạc chung, ai nấy đều đưa ra ý kiến của mình. Mà họ bàn bạc với những lời lẽ rất đứng đắn. Nhất là các bà đã khéo tìm được những cách nói tế nhị, những từ ngữ tinh vi duyên dáng, để nói những chuyện khó nói nhất. Một người lạ nghe chuyện chắc sẽ chẳng hiểu gì hết, vì những lời lẽ được giữ thận trọng hết sức. Song người đàn bà xã giao lịch thiệp nào cũng chỉ có một lớp e thẹn mỏng manh che đậy mặt ngoài, kỳ thực trong bụng các bà đều rất thích thú, họ nở nang mày mặt trong các chuyện đảm đang này, cảm thấy đây đúng là điều sở đắc, đem chuyện tình ái ra mân mê với cái khoái lạc của một anh đầu bếp tham ăn đang làm bữa ăn cho một kẻ khác.
Sự vui vẻ tự nhiên đã trở lại, vì họ thấy câu chuyện rút cục lại rất buồn cười. Bá tước tìm ra những câu đùa hơi bạo, nhưng nói khéo quá, khiến mọi người đều mỉm cười. Đến lượt Loadô tuôn ra mấy câu chớt nhã sống sượng hơn, mà chẳng ai phật ý cả, và cái ý nghĩ vợ hắn đã sổ sàng nói ra đang choán cả đầu óc mọi người: “Nghề nghiệp của con đĩ ấy là thế, thì tại sao nó lại từ chối thằng này, ưng thằng khác?” Bà Carê Lamađông xinh đẹp hình như lại còn nghĩ rằng ở vào địa vị cô ta, bà sẽ chẳng từ chối một thằng cha khác, chứ thằng cha này thì chưa chắc.
Người ta chuẩn bị rất lâu cuộc phong tỏa, như đối với một pháo đài bị bao vây. Ai nấy đều nhận rõ vai trò mình sẽ đóng, những lý lẽ mình sẽ dựa vào, những mánh lới mình phải thực hiện. Người ta xếp đặt kế hoạch tấn công, những mưu mẹo phải dùng đến, những sự bất ngờ của cuộc tập kích, để buộc cái thành trì sống kia phải tiếp tục nhận kẻ thù vào trong vị trí.
Cornuyđê tuy nhiên vẫn ngồi lánh ra một chỗ, hoàn toàn đứng ngoài việc này.
Tâm trí mọi người đều căng thẳng vì chăm chú, nên không ai nghe thấy tiếng chân Viên Mỡ Bò trở về. Nhưng bá tước khẽ “Suỵt” một tiếng, làm mọi người ngẩng nhìn lên. Cô ta đứng đó. Ai nấy bỗng im bặt, và thoạt đầu có phần lúng túng không biết nói gì với cô. Bà bá tước, vốn thành thạo hơn các người khác về những trò lá mặt lá trái ở phòng khách, hỏi cô: “Lễ rửa tội có vui không?”.
Cô gái đẩy đà, còn đang xúc động, kể lại hết, nào là mặt mũi những người dự lễ, nào là thái độ của họ, và cả đến cảnh tượng nhà thờ nữa. Cô nói thêm: “Đôi khi cầu Chúa thật là dễ chịu”.
Tuy nhiên, cho đến bữa ăn sáng, các bà vẫn làm ra vẻ niềm nở với cô gái, để cho cô ta thêm tin và dễ nghe lời các bà khuyên bảo hơn.
Ngồi vào bàn ăn, người ta lân la gợi chuyện ngay. Mới đầu còn nói chuyện vớ vẩn đâu đâu về lòng tận tụy. Người ta nêu ra những gương thời cổ: Judith và Hôlôphecnơ(21), rồi tự nhiên vô cớ nhảy sang Luycrexơ với Xectuyt(22), Clêopâtrơ(23) cho tất cả tướng lĩnh địch ngủ ở giường mình và buộc họ phải chịu mọi sự phục tùng nô lệ. Rồi tiếp đên một câu chuyện bịa, đẻ ra trong trí tưởng tượng của mấy nhà triệu phú dốt nát ấy, rằng các nữ công dân La Mã đã đi sang Capu ru ngủ Anniban(24) trong tay họ, và, cùng với ông ta, cả các tướng tá, các đội quân đánh thuê của ông ta nữa. Người ta nêu tên hết thảy những người đàn bà đã chặn đứng được những kẻ đi chinh phục, đã biến thân mình thành một bãi chiến trường, một phương tiện áp đảo, một vũ khí, đã dùng những vuốt ve anh hùng của mình mà thắng những con người ghê tởm hoặc bị căm ghét, và hy sinh trinh tiết cho sự phục thù và lòng tận tụy.
Người ta còn úp mở nói cả đến cái bà quí tộc nước Anh nọ đã tự làm cho mình nhiễm một bệnh lây ghê ghớm để đem truyền sang cho Bônapactơ, mà ông ta may mắn lạ kỳ tránh được, ngay trong giờ phút gặp gỡ nguy hại, chỉ vì đột nhiên đâm ra suy nhược.
Và tất cả những câu chuyện ấy được kể lại một cách đứng đắn và có chừng mực, trong đó đôi khi bật lên một lời trầm trồ thán phục cố ý, cốt để kích thích sự ganh đua.
Rút cục, người ta có thể tưởng chừng như vai trò duy nhất của người đàn bà, trên cõi đời này, là cứ phải mãi mãi hy sinh thân mình, không ngừng chiều theo những sở thích thất thường của tụi võ biền.
Hai bà phước dường như không thấy gì hết, chìm đắm vào những suy nghĩ sâu xa. Viên Mỡ Bò không nói năng chi cả.
Suốt cả buổi chiều, người ta để cho cô gái suy nghĩ. Nhưng đáng lẽ gọi cô là “bà”, như vẫn xưng hô cho đến bấy giờ, người ta chỉ gọi là “cô” thôi, chẳng hiểu tại sao, như tuồng người ta muốn hạ cô xuống một bậc trong sự quí trọng vì nể mà cô đã leo lên được, muốn cho cô cảm thấy rõ hoàn cảnh nhục nhã của mình.
Vừa lúc món xúp được đem lên, lão Fonlăngvi lại xuất hiện, nhắc lại cái câu hôm qua: “Ngài sĩ quan Phổ hỏi xem cô Elizabeth Ruxê đã thay đổi ý kiến chưa”.
Viên Mỡ Bò xẵng giọng trả lời: “Thưa ông, không ạ”.
Nhưng đến bữa tối thì phe liên minh có yếu đi. Loadô buột miệng nói ra mất ba câu lỡ làng. Ai nấy cố nặn óc tìm ra những tấm gương mới, nhưng chẳng tìm được gì hết, chợt bà bá tước, có lẽ cũng không rắp tâm trước, mà chỉ lờ mờ cảm thấy cần phải tỏ lòng tôn trọng tôn giáo, hỏi bà phước nhiều tuổi nhất về những sự tích lớn trong đời các thánh, thì ra nhiều thánh đã từng làm những việc có thể coi là tội nặng theo mắt ta nhìn nhận, song Giáo hội xá miễn cho các đại tội ấy một cách dễ dàng khi việc làm là để sáng danh Chúa hay vì lợi ích của người đồng loại. Thật là một lý lẽ rất mạnh, bà bá tước bèn lợi dụng liền. Ấy thế là, hoặc vì một sự thông đồng ngấm ngầm, một cách chiều đời kín đáo mà bất cứ ai khoác áo nhà tu đều rất thạo, hoặc chỉ vì một sự ngu độn ngẫu nhiên hợp cảnh, một sự ngốc nghếch vô tình mà giúp sức vào, bà phước già kia đã đem lại cho cuộc âm mưu một chỗ dựa rất mạnh. Mọi người cứ tưởng bà ta nhút nhát, nhưng hóa ra bà ta lại mạnh dạn, lắm lời, quyết liệt. Bà ta chẳng phải hạng người bối rối vì những mò mẫm của nghị nghĩa thần học(25), giáo lý của bà tựa như một thanh sắt cứng, lòng tin của bà chẳng hề bao giờ có những băn khoăn đắn đo. Bà ta coi sự hy sinh của Abraham(26) rất đơn giản vì bà ta có thể tuân lệnh bề trên mà giết chết ngay cả cha lẫn mẹ và theo ý kiến bà, thì chẳng có thể làm phật lòng Chúa một khi chủ tâm của mình đáng khen. Bà bá tước, lợi dụng cái uy tín thiêng liêng của bà bạn đồng lõa bất ngờ ấy, bèn gợi cho bà ta giải nghĩa dài dòng để khuyến thiện, cái định lý về đạo đức: “Dùng thủ đoạn gì cũng được, miễn là đạt mục đích”.
Bà hỏi bà phước:
– Vậy ra, thưa bà, bà cho rằng Chúa chấp nhận rằng tất cả mọi con đường và tha thứ cho việc làm nếu lý do hành động là trong sạch?
– Thưa bà, điều đó còn nghi ngờ gì nữa? Một hành động tự nó là đáng trách thường trở thành đáng khen vì cái ý nghĩa đã thúc đẩy nó.
Và hai người cứ nói chuyện tiếp như thế, cố tìm hiểu những ý muốn của Chúa, dự đoán những quyết định của Người, làm như Người quan tâm tới những việc thực ra chẳng liên quan đến Người một chút nào.
Tất cả những chuyện ấy đều được nói bóng nói gió, khôn khéo, kín đáo. Nhưng mỗi lời của bà phước đội mũ cong vành lại phá vỡ thêm một mảng trong thái độ công phẫn của cô giá điếm. Rồi câu chuyện đổi hướng đi chút ít, bà già đeo tràng hạt kể lể những nhà tu của dòng bà, về bà nhất của mình, về bản thân bà ta và về bà phước xinh xắn ngồi bên, bà phước quí hóa Xanh Nixêpho. Hai bà được mời đến Lơ Harvơ để vào bệnh viện chăm nom hàng trăm binh lính mắc bệnh đậu mùa. Các bà mô tả họ, những con người khốn khổ ấy, kể ra những chi tiết về bệnh trạng của họ. Ấy thế mà trong lúc các bà bị giữ lại ở dọc đường vì những ý thích bất chợt của tên Phổ nọ, biết bao nhiêu người Pháp có thể chết mà đáng lẽ các bà cứu sống được cũng nên! Chăm nom binh sĩ là việc chuyên môn của bà; bà từng ở Crimê, ở Ý, ở Áo, và qua câu chuyện kể lại các chiến dịch bà đã tham dự, bà bỗng tỏ ra là một nhà tu hành thuộc loại thổi kèn đánh trống, hình như sinh ra là để đi theo các trại quân, thu nhặt những người bị thương giữa các trận giao tranh ác liệt, và giỏi hơn cả một cấp chỉ huy, chỉ dùng một lơi nói cũng khuất phục được những tên lính thô bỉ vô kỷ luật; đúng là một bà phước Răng-tăng-plăng(27) mà bộ mặt rỗ nát, chi chít vô số những nốt lỗ chỗ, dường như là một hình ảnh những tàn phá của chiến tranh.
Bà ra nói xong, không ai nói thêm gì nữa, vì hiệu quả xem chừng tốt quá rồi.
Ăn xong, mọi người vội vã trở về lên ngay phòng mình, để sáng hôm sau khá muộn mới lại xuống.
Bữa ăn sáng yên ổn. Người ta để cho cái hạt gieo hôm qua có thì giờ nảy mầm và kết quả.
Bà phước đề nghị một cuộc đi chơi vào buổi chiều.Thế là ông bá tước, như đã thỏa thuận trước, khoác tay Viên Mỡ Bò, và đi với cô ta, sau những người khác.
Ông nói với cô bằng cái giọng thân mật, cha con, hơi khinh khỉnh, mà những người thượng lưu vẫn dùng với bọn gái điếm, gọi cô bằng “con yêu quí”, đứng trên đỉnh cao địa vị xã hội và danh giá không chối cãi được của ông mà hạ cố đối xử với cô. Ông đi ngay vào vấn đề:
– Vậy là con ưng để chúng ra ở lại đây, cũng như con chịu cái nguy cơ hứng lấy mọi sự tàn bạo có thể xảy ra sau sự thất bại của bọn Phổ, còn hơn là bằng lòng ưng thuận, như bao lần con thường vẫn ưng thuận trong đời con ư?
Viên Mỡ Bò không trả lời.
Ông thuyết phục cô bằng thái độ dịu dàng, bằng lý lẽ, bằng tình cảm. Ông biết giữ thể diện là “ông bá tước”, trong khi vẫn tỏ ra lịch sự với phụ nữ khi cần thiết, tán tụng khéo, tóm lại, rất ân cần. Ông tán dương cái việc cô sẽ giúp đỡ họ, nói tới lòng biết ơn của mọi người, rồi đột nhiên ông vui vẻ, giọng thân tình: “Mà rồi em ạ, hắn sẽ có thể tự phụ được nếm mùi một cô gái đẹp, mà ơ bên nước hắn chẳng có nhiều lắm đâu”.
Viên Mỡ Bò không trả lời và đi lên nhập bọn với mọi người.
Về đến quán trọ, cô lên ngay phòng mình và không ló mặt ra nữa. Nỗi lo ngại lên tới cực độ. Cô ta sắp làm gì đây? Nếu cô ta cứ khăng khăng không chuyển thì rầy ra biết chừng nào!
Đến giờ ăn bữa tối, mọi người chờ đợi cô hoài, chẳng thấy. Rồi lão Fonlăngvi bước vào, báo tin cô Ruxê khó ở và xin mời mọi người cứ việc ngồi vào bàn thôi. Ai nấy đều dõng tai lên. Ông bá tước đến gần bác chủ quán, và hỏi rất nhỏ: “Ổn rồi chứ?- Vâng”. Vì lịch sự, ông không nói gì với các bạn đường của ông, mà chỉ khẽ gật đầu ra hiệu cho họ. Ai nấy thở dài nhẹ cả người, mặt mày mừng rỡ hẳn lên. Loadô gào to: “Úi cha cha! Nhà này mà có sâm banh thì tôi xin khao ngay các vị một chầu”, và mụ Loadô đâm lo khi thấy lão chủ quán trở lại với bốn chai rượu cầm tay. Ai nấy đều đột nhiên trở nên cởi mở và ồn ào, một niềm vui nhả nhớt tràn ngập lòng mọi người. Ông bá tước xem chừng nhận thấy bà Carê Lamađông là có duyên, ông chủ nhà máy thì ca tụng bà bá tước. Chuyện trò thật rôm rả, khoài trá, lắm câu ý nhị.
Bỗng Loadô, vẻ mặt lo lắng, và giơ hai tay lên hét lớn: “Lặng im!”. Mọi người im bặt, ngạc nhiên, hầu như đã phát hoảng. Thế là hắn vểnh tai lên, hai tay ra hiệu “Suỵt”, nghếch mắt nhìn lên trần, nghe ngóng nữa, rồi lại nói với giọng bình thường: “Các vị hãy yên trí, mọi sự đều yên ổn cả”.
Mọi người phân vân chưa hiểu, nhưng không mấy chốc ai nấy đã mỉm cười.
Mười lăm phút sau hắn diễn lại vẫn cái trò hề ấy, và tái diễn nó nhiều lần buổi tối hôm đó, và hắn giả vờ nói với một người nào đó ở gác trên, khuyên anh ta những lời khuyên hai nghĩa moi từ bộ óc nhân viên chào hàng của hắn ta. Thỉnh thoảng hắn làm bộ buồn rầu thở dài: “Tội nghiệp cô bé!” hoặc hắn lẩm nhẩm trong mồm, vẻ hằn học: “Cái thằng Phổ khốn nạn!”. Đôi khi, vào lúc không ai nghĩ tới nữa, hắn kêu váng lên, tiến oang oang, nhiều lần: “Thôi! Thôi!”, và nói thêm như tự nhủ: “Miễn là chúng ta gặp được cô bé, miễn là nó đừng có vần cô nàng đến chết, cái thằng khốn nạn ấy!”.
Mặc dầu những câu bông lơn ấy thật bỉ ổi, nó cũng khiến người ta thích thú và không làm phật ý ai hết, vì sự tức giận, cũng như mọi sự khác vậy, tùy thuộc ở môi trường, và chung quanh họ dần dần hình thành một bầu không khí chứa chất đầy những ý nghĩ dâm đãng.
Đến tận lúc ăn tráng miệng, ngay các bà cũng nói những câu bóng gió hóm hỉnh và kín đáo. Mắt ai nấy đều long lanh, mọi người đều đã nốc nhiều rượu. Ông bá tước, là người cả trong những lúc vui đùa cũng vẫn giữ được cái màu mè con người trang trọng, tìm ra một ý so sánh được mọi người rất tán thưởng về sự kết thúc những thời kỳ dài phải sống qua mùa đông ở bắc cực và niềm vui mừng của kẻ bị đắm tàu trông thấy mở ra một con đường đi về phương Nam.
Loadô, được đà, nhổm dậy, cốc sâm banh trong tay: “Tôi xin uống mừng chúng ta được giải phóng!”. Tất cả mọi người cũng đứng lên, ai nấy hoan hô hắn. Cả đến hai bà phước, bị các bà chèo kéo, cũng bằng lòng nhấp môi vào cái thứ rượu ngầu bọt kia mà hai bà chưa từng nếm bao giờ. Hai bà nói là nó giống nước chanh hơi, nhưng tuy vậy cũng ngon hơn.
Loadô tóm tắt tình hình.
– Tiếc rằng không có dương cầm, nếu có thì có thể đánh một điệu đối diện(28) chơi.
Cornuyđê chẳng nói một lời, chẳng có một cử chỉ gì hết, thậm chí ý còn có vẻ mê mải vào những ý nghĩ rất trọng đại, và đôi khi cáu kỉnh dứt bộ râu rậm của y, tựa hồ muốn kéo dài thêm ra. Sau cùng, khoảng nửa đêm, lúc mọi người sắp giải tán, Loadô đã chuếnh choáng, bỗng vỗ vào bụng y mà bảo, giọng líu lo: “Ông bạn tối nay chẳng vui vẻ tí nào, sao ông không nói gì cả thế, ông công dân?”. Nhưng Cornuyđê bỗng ngửng phắt đầu lên, và nhìn khắp lượt cả bọn, mắt long lanh và dữ tợn: “Tôi nói cho tất cả các người rõ là các người vừa làm một chuyện bỉ ổi!”. Y đứng dậy, đi ra cửa, nhắc lại một lần nữa::Một chuyện bỉ ổi!” rồi biến mất.
Mới đầu việc đó khiến mọi người cụt hứng. Loadô sững sờ, đứng thộn ra đấy, nhưng rồi hắn vững trở lại, và đột nhiên cười lăn lộn, nhắc đi nhắc lại: “Nó còn xanh quá ông bạn ạ, nó còn xanh quá(29) Thấy mọi người không hiểu, hắn bèn kể lại chuyện “những bí mật của hành lang”. Thế là cả bọn lại cười nhộn hẳn lên. Các bà cười như nắc nẻ. Bá tước và ông Carê Lamađông cười đến chảy nước mắt. Họ không thể nào tin được.
– Thế nào! Ông chắc chứ! Hắn ta muốn…
– Thì tôi bảo với các ông các bà là tôi trông thấy hắn mà.
– Và cô ta đã từ chối…
– Vì tên Phổ ở buồng bên cạnh.
– Có lẽ nào?
– Tôi xin thề với các ông các bà đúng như thế.
Ông bá tước cười không thở được. Nhà kỹ nghệ đưa hai tay lên nén bụng. Loadô nói tiếp:
– Cho nên, các vị ạ, tối nay hắn ta thấy là chuyện này chẳng thú vị gì, chẳng thú vị tí nào hết.
Và cả ba lại cười lăn cười lộn, đến phát ốm, hết cả hơi, ho sặc sụa.
Chuyện đến đây thì họ giải tán. Nhưng mụ Loadô, vốn bản chất hay dè bỉu, lúc đi ngủ, bảo chồng rằng cái “con mẹ ranh” oắt con Carê Lamađông nọ suốt cả buổi chỉ cười gượng: “Mình ạ, bọn đàn bà, một khi đã mê tụi nhà binh thì dù là thằng Pháp, hay thằng Phổ, nói thật chứ, cũng cứ là được tuốt. Thực là thảm hại, lạy Chúa!”.
Và suốt đêm, trong bóng tối của hành lang, cứ lao xao như có những tiếng run rẩy, những tiếng động nhè nhẹ, chỉ thoáng nghe thấy, thoảng qua như những hơi thở, những bước chân không đi rón rén, những tiếng lắc rất khẽ. Và chắc chắn là ai nấy đều ngủ rất muộn, vì những vệt ánh sáng lọt ra ngoài rất lâu dưới các cửa buồng. Ấy rượu sâm banh có những hiệu quả như vậy đấy, người ta bảo là nó làm cho khó ngủ.
Hôm sau ánh nắng trong trẻo của mặt trời mùa đông làm mặt tuyết chói lòa. Chiếc xe thuê, cuối cùng đã có ngựa thắng vào, chờ ở trước cửa, trong khi một đàn bồ câu trắng, cổ vươn ra trong bộ lông dày cộm, con mắt đỏ điểm một chấm đen ở giữa, đang trịnh trọng dạo chơi giữa chân sau con ngựa, và tìm ăn trong những đống phân bốc khói ngựa đã vung vãi ra đấy.
Bác xà ích, trùm lên người một tấm da cừu, đang ngồi rít tẩu thuốc trên ghế xe, và tất cả hành khách hớn hở vội cho gói những thức ăn dành cho đoạn hành trình còn lại.
Người ta chỉ có đợi Viên Mỡ Bò. Cô ta xuất hiện.
Cô ta có vẻ hơi bối rối, xấu hổ, và bẽn lẽn đi về phía các bạn đường bỗng nhất loạt cùng ngoảnh mặt đi, tựa hồ như không trông thấy cô. Ông bá tước nghiêm trang khoác tay bà vợ, và đưa bà tránh xa sự đụng chạm nhơ nhớp đó.
Cô gái đẫy đà đứng lại sững sốt, rồi, cô lấy hết can đảm, cô lúng búng một cách khiêm tốn chào vợ ông chủ nhà máy một câu: “Xin chào bà”. Bà kia chỉ khẽ gật đầu xấc xược chào lại, kèm theo một cái nhìn của đạo đức bị xúc phạm. Mọi người đều làm ra vẻ bận rộn và đứng lảng xa cô, tựa hồ cô đem theo một bệnh truyền nhiễm trong váy cô vậy. Rồi họ chạy vội tới chiếc xe, để cô ta đi sau cùng, một mình, và cô lại lặng lẽ ngồi vào chỗ đã ngồi trong chặng đường thứ nhất.
Người ta dường như không nhìn thấy cô, không quen biết cô, nhưng mụ Loadô, ngó cô từ đằng xa một cách tức giận, khẽ nói với chồng: “May mà tôi không ngồi bên cạnh nó”.
Chiếc xe nặng chuyển bánh, và cuộc hành trình lại bắt đầu.
Thoạt tiên không ai trò chuyện hết. Viên Mỡ Bò không dám ngẩng nhìn lên. Cô vừa căm phẫn đối với tất cả những người ngồi bên, lại vừa cảm thấy nhục nhã vì đã nhượng bộ, bị nhơ nhớp vì những cái hôn của tên Phổ nọ, mà họ đã giả nhân giả nghĩa đem quẳng cô vào tay nó.
Nhưng không bao lâu bà bá tước quay sang bà Carê Lamađông phá tan bầu không khí im lặng nặng nề đó.
– Có lẽ bà biết bà Đetren đấy nhỉ?
– Vâng, bà ấy là bạn thân của tôi.
– Bà ấy mới duyên dáng chứ!
– Tuyệt diệu! Đúng là một tư chất ưu tú, lại rất học thức, và nghệ sĩ đến tận đầu ngón tay, bà ấy hát nghe thật mê ly, và vẽ đến giỏi!
Ông chủ nhà máy nói chuyện với ông bá tước, và giữa những tiếng cửa kính rung loảng xoảng, thỉnh thoảng lại nghe thấy lõm bõm một tiếng: “Téc phiếu -kỳ hạn -tiền thưởng -trả dần”.
Loadô vừa xoáy được cỗ bài cũ của quán trọ đã nhờn mỡ sau năm năm cọ xát những bàn không lau sạch, cùng vợ chơi một ván tay đôi.
Hai bà phước rút chuỗi tràng hạt dài đeo lòng thòng ở thắt lưng, cùng nhau làm dấu thánh giá, rồi môi họ đột nhiên mấp máy nhanh, mỗi lúc càng thêm vội vã, dồn dập những tiếng lâm râm không rõ, như một cuộc chạy thi trong khi làm lễ kỳ đảo, thỉnh thoảng họ cúi xuống hôn một cây thánh bài, làm lại dấu, rồi lại lâm râm liến thoắng và liên tục.
Cornuyđê ngồi đăm chiêu, không nhúc nhích.
Đi được ba tiếng đồng hồ, Loadô thu cỗ bài lại: “Đến lúc đói rồi” hắn nói.
Mụ vợ hắn bèn với một cái gói buộc dây, lôi ra một miếng thịt bê nguội. Mụ cắt ra từng khoanh gọn ghẽ, mỏng và chắc nịch, rồi cả hai bắt đầu ăn.
“Hay là ta cũng ăn đi”, bà bá tước nói. Mọi người đồng ý, và bà mở gói thức ăn chuẩn bị cho hai gia đình. Đó là một thứ liễn dài, trên vung nặn một con thỏ rừng đã nghiền thịt nằm ở dưới, một món thịt nguội bổ béo, có những đường mỡ trắng xuyên qua những màu thịt thỏ rừng nâu, trộn lẫn với những thịt khác băn nhỏ viên. Một tảng phó mát Cruyu-30 vuông vắn, gói trong một mảnh báo, trên mặt mịn màng còn in rõ mấy chữ “Việc vặt”.
Hai bà phước giở ra một khoanh xúc xích lớn sặc mùi tỏi, còn Cornuyđê, hai tay cùng một lúc thọc vào các túi rộng của áo bành tô, rút ra một bên bốn quả trứng luộc và bên kia một mẩu cùi bánh mì. Y bóc vỏ, ném vào rơm ở dưới chân và đưa cả quả trứng vào một mà ngoạm, những mảnh vụn màu vàng nhạt rơi lên bộ râu rậm của y, lốm đốm nhưng những ngôi sao.
Viên Mỡ Bò, trong lúc vội vã hốt hoảng khi ngủ dậy, đã không nghĩ được chuyện gì hết, và cô nhìn tất cả bọn người kia điềm tĩnh ăn uống mà lộn ruột, uất đến ngạt thở. Một cơn điên giận sôi sục mới đầu khiến cô cau mặt, và cô mở miệng định hét vào mặt họ một thôi một hồi những lời chửi rủa đang dồn lên môi, nhưng cô không thể nào nói được vì cơn tức nghẹn ứ cổ.
Không một ai ngó cô, nghĩ đến cô. Cô cảm thấy mình bị dìm trong sự khinh bỉ của những kẻ đểu cáng lương thiện này, chúng thoạt đầu đem cô ra hy sinh, rồi sau hắt hủi cô, coi như một vật bẩn thỉu và vô dụng. Cô nhớ tới chiếc làn to của cô đầy ắp những thứ ngon lành mà chúng đã ăn ngấu nghiến, hai con gà bóng nhẩy mỡ đông, những miếng ba tê, những quả lê, và bốn chai rượu vang đỏ của cô.Rồi cơn giận bỗng xẹp xuống như một sợi dây thừng căng quá hóa đứt, cô cảm thấy chỉ muốn khóc. Cô ráng hết sức nén mình, nuốt những tiếng nức nở, như con nít song nước mắt cứ trào lên, lấp lánh trên mi, và không mấy chốc hai giọt lệ lớn đã rời khóe mắt, từ từ lăn trên gò má. Những giọt khác cứ thế tiếp theo, mau hơn, chảy ròng ròng như những giọt nước lọc qua một vách đá, và đều đều rơi xuống đường cong bầu bĩnh của ngực cô. Cô ngồi thẳng, mắt nhìn trân trân, mặt đờ đẫn và tái nhợt, hy vọng mọi người không trông thấy mình.
Nhưng bà bá tước nhìn thấy và ra hiệu mách chồng. Ông chồng nhún vai, y như nói: “Làm thế nào được? Đâu phải lỗi tại tôi”. Mụ Loadô thì lặng lẽ cười đắc thắng, và lẩm bẩm: “Cô ả khóc nỗi nhục của mình”.
Hai bà phước lại cầu kinh, sau khi gói mẩu xúc xích còn lại vào một tờ giấy.
Bây giờ, Cornuyđê, trong khi tiêu hóa mấy quả trứng, duỗi dài cẳng sang gầm ghế trước mặt, ngồi ưỡn người ra khoanh tay lại, mỉm cười như một người vừa tìm được một trò đùa hay, và bắt đầu huýt sáo miệng khe khẽ bài Macxâyedơ(31)
Tất cả các bộ mặt đều sa sầm lại. Bài hát bình dân chắc chắn chẳng được những người ngồi bên ưa thích tí nào. Họ đâm ra nóng nảy, bực dọc và có vẻ chỉ chực gào lên như bầy chó nghe thấy tiếng phong cầm quay tay vậy.
Y thấy rõ như thế, và càng không chịu ngừng lại. Thỉnh thoảng y lại còn hát nho nhỏ lời bài ca:
Hỡi tình yêu tổ quốc thiêng liêng
Hãy dẫn dắt nâng đỡ những cánh tay phục thù của chúng ta.
Hỡi tự do, hỡi tự do yêu quí,
Hãy chiến đấu cùng với những người bảo vệ ngươi!
Xe chạy nhanh hơn vì tuyết đã rắn lại, và suốt cho đến Đieppơ, trong những giờ dài dặc ảm đạm của cuộc hành trình, qua những cái xóc trên đường gập ghềnh, trong bóng đêm đang tỏa xuống rồi trong bóng tối đen của chiếc xe, y cứ tiếp tục với một sự bướng bỉnh tai ác, tiếng huýt sáo báo thù và đơn điệu của y, bắt buộc các tâm trí mỏi mệt và tức tối đến cực điểm cứ phải theo dõi bài hát suốt từ đầu đến cuối, cứ phải nhớ lại từng lời ứng dụng vào mỗi nhịp.
Viên Mỡ Bò vẫn khóc, và đôi khi một tiếng nức nở, cô không nén nổi, bật lên trong bóng tối giữa hai đoạn bài hát.
(1880)
Chú thích
1. Vệ động: tạm dịch chữ moblot, chữ viết tắc của chữ mobile(lưu động) hay garde mobile (vệ binh lưu động) của nước Pháp năm 1870.
2. Tức là bộ binh.
3. “L’oisenu vole”, lối chơi chữ không dịch được. Chữ Pháp viết Loadô (L’oiseau; tên người) đọc lên đồng âm với Loadô (L’oiseau: con chim), và động từ vole vừa có nghĩa là bay, vừa có nghĩa là ăn cắp. Vậy khi nói “Loiseau vole”, người ta có thể hiểu là “chim bay” hay “Loadô ăn cắp”. Trên đây dịch giả dịch theo nghĩa thứ nhất, để giữ ý nghĩa của động từ “bay”, được cố ý nhắc lại ngay ở câu dưới.
4. Ngày 4-9-1870, Napôlêông III ( Napoléon )bị truất ngôi do những thất bại của trận chiến tranh Pháp- Đức (1870-1871), và nền cộng hòa được tuyên bố thành lập.
5. Ngụ ý người mũm mỉm, béo tròn, núng nính. Vì không tìm được hình ảnh tương đương trong tiếng Việt nên tạm dịch sát nguyên văn.
6. Nguyên văn: một quả phòng khi khát.
7. Hội tam điểm: một hội kín.
8. Nguyên văn: “Ra trận thì phải theo lối ở ngoài trận”. Ý nói phải tùy cơ ứng biến, thích nghi với hoàn cảnh khó khăn.
9. Trong thần thoại Hy Lạp, Tăngtan bị hành tội treo vào thân cây nặng trĩu quả, nhưng không với tới được, nước dâng lên gần miệng nhưng không uống được, trong khi y đói khát như cào cấu ruột gan.
10. Con sông nhỏ ngăn cách nước Ý với xứ Gôlơ. Để bảo vệ thành La Mã chống lại quân Gôlơ, nguyên lão viện đã ra một quyết định nổi tiếng tuyên bố là phản quốc và nguyền rủa kẻ nào đem quân, không kể nhiều ít, vượt qua sông đó. Xêđa coi khinh lệnh cấm ấy, vượt qua sông mà kêu lên: “Số phận đã quyết định!” Người ta thường nhắc lại lời này mỗi khi quyết định một điều gì táo bạo và quan trọng, sau nhiều do dự hoặc nói “vượt qua sông Ruybicông” cũng là ngụ ý đó.
11. Nguyên văn: chả chim Manvielica, tục danh của chim sơn ca béo nục.
12. Badingghet: tên đặt cho Napôlêông III( 1803-1870) vua nước Pháp thời đế chế thứ II từ 1852-1870
13. Phái phục hưng đế chế.
14. Nguyên văn: Đỏ hơn một quả anh đào.
15. Tức là phòng vệ sinh.
16. Follenvie: đọc lên cũng như Folle envie, có nghĩa là: thèm muốn điên rồ.
17. Cũng có nghĩa như “Con số biết nói” đã chú thích.
18. Du Guesclin (1320-1380) một trong những tướng lĩnh Pháp nổi tiếng đã đánh đuổi quân xâm lược Anh.
19. Jeanne d’Arc (1412-1431) Nữ anh hùng Pháp chống quân Anh xâm lược, sau bị chúng bắt và thiêu sống.
20. Một loại bài lá, có 52 quân, mỗt quân có số điểm nhất định, ai được số điểm gần 31 nhất hay đúng 31 là được, quá 31 là hỏng.
21. Judith: nữ anh hùng Do Thái, muốn cứu vớt thành Bethulie, đã quyến rũ tướng địch là Holophernơ và chặt đầu y.
22. Lucrèce: mệnh phụ La Mã, bị Sextus Tarquin, con của Tarquin kiêu hùng (Tarquin le Superbe, vua La Mã cuối cùng) cưỡng hiếp và sau đó đã tự vẫn, việc này đã làm cho nền quân chủ bị sụp đổ và chế độ cộng hòa được thiết lập ở La Mã (510 trước công nguyên) Người ta nhắc tới tên nàng Lucrèce mỗi khi nói về những phụ nữ cao khiết và đạo đức, thà chết chứ không chịu nhục.
23. Cleôpatrơ: hoàng hậu Ai Cập, nổi tiếng đẹp đã lần lượt cám dỗ được César và Antonio, danh tướng La Mã (chết năm 30 Trước CN).
24. Anibal(217-183 Trước CN) danh tướng thành Caribage, đã lập nhiều chiến công hiển hách, nhưng cũng có tiếng là để cho quân sĩ mềm yếu vì tửu sắc trong khi trú quân ở Capoue.
25. Thành phần học chuyên về những vấn đề khó giải quyết.
26. Abraham là cha của Isaac, và là thủy tổ của người Do Thái xưa. Theo Kinh thánh Cơ đốc giáo, khi Isaac sắp bị cha hy sinh thì được một thiên thần cứu thoát.
27. Tiếng phỏng theo tiếng trống trận. Ý nói: một bà phước của quân đội.
28. Điệu vũ bốn người.
29. Ý muốn nhắc tới một câu trong chuyện ngụ ngôn con cáo và giàn nho của La Fôngten: cáo đang đói, đi qua một giàn nho chín mọng, rất thèm ăn, nhưng giàn nho cao không với tới được, bèn nói: “Nho xanh chẳng xứng miệng người phong lưu”.
30. Thị trấn Thụy Sĩ, nổi tiếng làm phó mát( Fromage) ngon.
31. Bài hát cách mạng Pháp năm 1789, bây giờ là quốc ca Pháp

(English Version)

Boule De Suff

Guy De Maupassant

For several days in succession fragments of a defeated army had passed through the town. They were mere disorganized bands, not disciplined forces. The men wore long, dirty beards and tattered uniforms; they advanced in listless fashion, without a flag, without a leader. All seemed exhausted, worn out, incapable of thought or resolve, marching onward merely by force of habit, and dropping to the ground with fatigue the moment they halted. One saw, in particular, many enlisted men, peaceful citizens, men who lived quietly on their income, bending beneath the weight of their rifles; and little active volunteers, easily frightened but full of enthusiasm, as eager to attack as they were ready to take to flight; and amid these, a sprinkling of red-breeched soldiers, the pitiful remnant of a division cut down in a great battle; somber artillerymen, side by side with nondescript foot-soldiers; and, here and there, the gleaming helmet of a heavy-footed dragoon who had difficulty in keeping up with the quicker pace of the soldiers of the line. Legions of irregulars with high-sounding names “Avengers of Defeat,” “Citizens of the Tomb,” “Brethren in Death”–passed in their turn, looking like banditti. Their leaders, former drapers or grain merchants, or tallow or soap chandlers–warriors by force of circumstances, officers by reason of their mustachios or their money–covered with weapons, flannel and gold lace, spoke in an impressive manner, discussed plans of campaign, and behaved as though they alone bore the fortunes of dying France on their braggart shoulders; though, in truth, they frequently were afraid of their own men–scoundrels often brave beyond measure, but pillagers and debauchees.
Rumor had it that the Prussians were about to enter Rouen.
The members of the National Guard, who for the past two months had been reconnoitering with the utmost caution in the neighboring woods, occasionally shooting their own sentinels, and making ready for fight whenever a rabbit rustled in the undergrowth, had now returned to their homes. Their arms, their uniforms, all the death-dealing paraphernalia with which they had terrified all the milestones along the highroad for eight miles round, had suddenly and marvellously disappeared.
The last of the French soldiers had just crossed the Seine on their way to Pont-Audemer, through Saint-Sever and Bourg-Achard, and in their rear the vanquished general, powerless to do aught with the forlorn remnants of his army, himself dismayed at the final overthrow of a nation accustomed to victory and disastrously beaten despite its legendary bravery, walked between two orderlies.
Then a profound calm, a shuddering, silent dread, settled on the city. Many a round-paunched citizen, emasculated by years devoted to business, anxiously awaited the conquerors, trembling lest his roasting-jacks or kitchen knives should be looked upon as weapons.
Life seemed to have stopped short; the shops were shut, the streets deserted. Now and then an inhabitant, awed by the silence, glided swiftly by in the shadow of the walls. The anguish of suspense made men even desire the arrival of the enemy.
In the afternoon of the day following the departure of the French troops, a number of uhlans, coming no one knew whence, passed rapidly through the town. A little later on, a black mass descended St. Catherine’s Hill, while two other invading bodies appeared respectively on the Darnetal and the Boisguillaume roads. The advance guards of the three corps arrived at precisely the same moment at the Square of the Hotel de Ville, and the German army poured through all the adjacent streets, its battalions making the pavement ring with their firm, measured tread.
Orders shouted in an unknown, guttural tongue rose to the windows of the seemingly dead, deserted houses; while behind the fast-closed shutters eager eyes peered forth at the victors-masters now of the city, its fortunes, and its lives, by “right of war.” The inhabitants, in their darkened rooms, were possessed by that terror which follows in the wake of cataclysms, of deadly upheavals of the earth, against which all human skill and strength are vain. For the same thing happens whenever the established order of things is upset, when security no longer exists, when all those rights usually protected by the law of man or of Nature are at the mercy of unreasoning, savage force. The earthquake crushing a whole nation under falling roofs; the flood let loose, and engulfing in its swirling depths the corpses of drowned peasants, along with dead oxen and beams torn from shattered houses; or the army, covered with glory, murdering those who defend themselves, making prisoners of the rest, pillaging in the name of the Sword, and giving thanks to God to the thunder of cannon–all these are appalling scourges, which destroy all belief in eternal justice, all that confidence we have been taught to feel in the protection of Heaven and the reason of man.
Small detachments of soldiers knocked at each door, and then disappeared within the houses; for the vanquished saw they would have to be civil to their conquerors.
At the end of a short time, once the first terror had subsided, calm was again restored. In many houses the Prussian officer ate at the same table with the family. He was often well-bred, and, out of politeness, expressed sympathy with France and repugnance at being compelled to take part in the war. This sentiment was received with gratitude; besides, his protection might be needful some day or other. By the exercise of tact the number of men quartered in one’s house might be reduced; and why should one provoke the hostility of a person on whom one’s whole welfare depended? Such conduct would savor less of bravery than of fool- hardiness. And foolhardiness is no longer a failing of the citizens of Rouen as it was in the days when their city earned renown by its heroic defenses. Last of all-final argument based on the national politeness- the folk of Rouen said to one another that it was only right to be civil in one’s own house, provided there was no public exhibition of familiarity with the foreigner. Out of doors, therefore, citizen and soldier did not know each other; but in the house both chatted freely, and each evening the German remained a little longer warming himself at the hospitable hearth.
Even the town itself resumed by degrees its ordinary aspect. The French seldom walked abroad, but the streets swarmed with Prussian soldiers. Moreover, the officers of the Blue Hussars, who arrogantly dragged their instruments of death along the pavements, seemed to hold the simple townsmen in but little more contempt than did the French cavalry officers who had drunk at the same cafes the year before.
But there was something in the air, a something strange and subtle, an intolerable foreign atmosphere like a penetrating odor–the odor of invasion. It permeated dwellings and places of public resort, changed the taste of food, made one imagine one’s self in far-distant lands, amid dangerous, barbaric tribes.
The conquerors exacted money, much money. The inhabitants paid what was asked; they were rich. But, the wealthier a Norman tradesman becomes, the more he suffers at having to part with anything that belongs to him, at having to see any portion of his substance pass into the hands of another.
Nevertheless, within six or seven miles of the town, along the course of the river as it flows onward to Croisset, Dieppedalle and Biessart, boat- men and fishermen often hauled to the surface of the water the body of a German, bloated in his uniform, killed by a blow from knife or club, his head crushed by a stone, or perchance pushed from some bridge into the stream below. The mud of the river-bed swallowed up these obscure acts of vengeance–savage, yet legitimate; these unrecorded deeds of bravery; these silent attacks fraught with greater danger than battles fought in broad day, and surrounded, moreover, with no halo of romance. For hatred of the foreigner ever arms a few intrepid souls, ready to die for an idea.
At last, as the invaders, though subjecting the town to the strictest discipline, had not committed any of the deeds of horror with which they had been credited while on their triumphal march, the people grew bolder, and the necessities of business again animated the breasts of the local merchants. Some of these had important commercial interests at Havre- occupied at present by the French army–and wished to attempt to reach that port by overland route to Dieppe, taking the boat from there.
Through the influence of the German officers whose acquaintance they had made, they obtained a permit to leave town from the general in command.
A large four-horse coach having, therefore, been engaged for the journey, and ten passengers having given in their names to the proprietor, they decided to start on a certain Tuesday morning before daybreak, to avoid attracting a crowd.
The ground had been frozen hard for some time-past, and about three o’clock on Monday afternoon–large black clouds from the north shed their burden of snow uninterruptedly all through that evening and night.
At half-past four in the morning the travellers met in the courtyard of the Hotel de Normandie, where they were to take their seats in the coach.
They were still half asleep, and shivering with cold under their wraps. They could see one another but indistinctly in the darkness, and the mountain of heavy winter wraps in which each was swathed made them look like a gathering of obese priests in their long cassocks. But two men recognized each other, a third accosted them, and the three began to talk. “I am bringing my wife,” said one. “So am I.” “And I, too.” The first speaker added: “We shall not return to Rouen, and if the Prussians approach Havre we will cross to England.” All three, it turned out, had made the same plans, being of similar disposition and temperament.
Still the horses were not harnessed. A small lantern carried by a stable-boy emerged now and then from one dark doorway to disappear immediately in another. The stamping of horses’ hoofs, deadened by the dung and straw of the stable, was heard from time to time, and from inside the building issued a man’s voice, talking to the animals and swearing at them. A faint tinkle of bells showed that the harness was being got ready; this tinkle soon developed into a continuous jingling, louder or softer according to the movements of the horse, sometimes stopping altogether, then breaking out in a sudden peal accompanied by a pawing of the ground by an iron-shod hoof.
The door suddenly closed. All noise ceased.
The frozen townsmen were silent; they remained motionless, stiff with cold.
A thick curtain of glistening white flakes fell ceaselessly to the ground; it obliterated all outlines, enveloped all objects in an icy mantle of foam; nothing was to be heard throughout the length and breadth of the silent, winter-bound city save the vague, nameless rustle of falling snow–a sensation rather than a sound–the gentle mingling of light atoms which seemed to fill all space, to cover the whole world.
The man reappeared with his lantern, leading by a rope a melancholy- looking horse, evidently being led out against his inclination. The hostler placed him beside the pole, fastened the traces, and spent some time in walking round him to make sure that the harness was all right; for he could use only one hand, the other being engaged in holding the lantern. As he was about to fetch the second horse he noticed the motionless group of travellers, already white with snow, and said to them: “Why don’t you get inside the coach? You’d be under shelter, at least.”
This did not seem to have occurred to them, and they at once took his advice. The three men seated their wives at the far end of the coach, then got in themselves; lastly the other vague, snow-shrouded forms clambered to the remaining places without a word.
The floor was covered with straw, into which the feet sank. The ladies at the far end, having brought with them little copper foot-warmers heated by means of a kind of chemical fuel, proceeded to light these, and spent some time in expatiating in low tones on their advantages, saying over and over again things which they had all known for a long time.
At last, six horses instead of four having been harnessed to the diligence, on account of the heavy roads, a voice outside asked: “Is every one there?” To which a voice from the interior replied: “Yes,” and they set out.
The vehicle moved slowly, slowly, at a snail’s pace; the wheels sank into the snow; the entire body of the coach creaked and groaned; the horses slipped, puffed, steamed, and the coachman’s long whip cracked incessantly, flying hither and thither, coiling up, then flinging out its length like a slender serpent, as it lashed some rounded flank, which instantly grew tense as it strained in further effort.
But the day grew apace. Those light flakes which one traveller, a native of Rouen, had compared to a rain of cotton fell no longer. A murky light filtered through dark, heavy clouds, which made the country more dazzlingly white by contrast, a whiteness broken sometimes by a row of tall trees spangled with hoarfrost, or by a cottage roof hooded in snow.
Within the coach the passengers eyed one another curiously in the dim light of dawn.
Right at the back, in the best seats of all, Monsieur and Madame Loiseau, wholesale wine merchants of the Rue Grand-Pont, slumbered opposite each other. Formerly clerk to a merchant who had failed in business, Loiseau had bought his master’s interest, and made a fortune for himself. He sold very bad wine at a very low price to the retail-dealers in the country, and had the reputation, among his friends and acquaintances, of being a shrewd rascal a true Norman, full of quips and wiles. So well established was his character as a cheat that, in the mouths of the citizens of Rouen, the very name of Loiseau became a byword for sharp practice.
Above and beyond this, Loiseau was noted for his practical jokes of every description–his tricks, good or ill-natured; and no one could mention his name without adding at once: “He’s an extraordinary man–Loiseau.” He was undersized and potbellied, had a florid face with grayish whiskers.
His wife-tall, strong, determined, with a loud voice and decided manner– represented the spirit of order and arithmetic in the business house which Loiseau enlivened by his jovial activity.
Beside them, dignified in bearing, belonging to a superior caste, sat Monsieur Carre-Lamadon, a man of considerable importance, a king in the cotton trade, proprietor of three spinning-mills, officer of the Legion of Honor, and member of the General Council. During the whole time the Empire was in the ascendancy he remained the chief of the well-disposed Opposition, merely in order to command a higher value for his devotion when he should rally to the cause which he meanwhile opposed with “courteous weapons,” to use his own expression.
Madame Carre-Lamadon, much younger than her husband, was the consolation of all the officers of good family quartered at Rouen. Pretty, slender, graceful, she sat opposite her husband, curled up in her furs, and gazing mournfully at the sorry interior of the coach.
Her neighbors, the Comte and Comtesse Hubert de Breville, bore one of the noblest and most ancient names in Normandy. The count, a nobleman advanced in years and of aristocratic bearing, strove to enhance by every artifice of the toilet, his natural resemblance to King Henry IV, who, according to a legend of which the family were inordinately proud, had been the favored lover of a De Breville lady, and father of her child– the frail one’s husband having, in recognition of this fact, been made a count and governor of a province.
A colleague of Monsieur Carre-Lamadon in the General Council, Count Hubert represented the Orleanist party in his department. The story of his marriage with the daughter of a small shipowner at Nantes had always remained more or less of a mystery. But as the countess had an air of unmistakable breeding, entertained faultlessly, and was even supposed to have been loved by a son of Louis-Philippe, the nobility vied with one another in doing her honor, and her drawing-room remained the most select in the whole countryside–the only one which retained the old spirit of gallantry, and to which access was not easy.
The fortune of the Brevilles, all in real estate, amounted, it was said, to five hundred thousand francs a year.
These six people occupied the farther end of the coach, and represented Society–with an income–the strong, established society of good people with religion and principle.
It happened by chance that all the women were seated on the same side; and the countess had, moreover, as neighbors two nuns, who spent the time in fingering their long rosaries and murmuring paternosters and aves. One of them was old, and so deeply pitted with smallpox that she looked for all the world as if she had received a charge of shot full in the face. The other, of sickly appearance, had a pretty but wasted countenance, and a narrow, consumptive chest, sapped by that devouring faith which is the making of martyrs and visionaries.
A man and woman, sitting opposite the two nuns, attracted all eyes.
The man–a well-known character–was Cornudet, the democrat, the terror of all respectable people. For the past twenty years his big red beard had been on terms of intimate acquaintance with the tankards of all the republican cafes. With the help of his comrades and brethren he had dissipated a respectable fortune left him by his father, an old- established confectioner, and he now impatiently awaited the Republic, that he might at last be rewarded with the post he had earned by his revolutionary orgies. On the fourth of September–possibly as the result of a practical joke–he was led to believe that he had been appointed prefect; but when he attempted to take up the duties of the position the clerks in charge of the office refused to recognize his authority, and he was compelled in consequence to retire. A good sort of fellow in other respects, inoffensive and obliging, he had thrown himself zealously into the work of making an organized defence of the town. He had had pits dug in the level country, young forest trees felled, and traps set on all the roads; then at the approach of the enemy, thoroughly satisfied with his preparations, he had hastily returned to the town. He thought he might now do more good at Havre, where new intrenchments would soon be necessary.
The woman, who belonged to the courtesan class, was celebrated for an embonpoint unusual for her age, which had earned for her the sobriquet of “Boule de Suif” (Tallow Ball). Short and round, fat as a pig, with puffy fingers constricted at the joints, looking like rows of short sausages; with a shiny, tightly-stretched skin and an enormous bust filling out the bodice of her dress, she was yet attractive and much sought after, owing to her fresh and pleasing appearance. Her face was like a crimson apple, a peony-bud just bursting into bloom; she had two magnificent dark eyes, fringed with thick, heavy lashes, which cast a shadow into their depths; her mouth was small, ripe, kissable, and was furnished with the tiniest of white teeth.
As soon as she was recognized the respectable matrons of the party began to whisper among themselves, and the words “hussy” and “public scandal” were uttered so loudly that Boule de Suif raised her head. She forthwith cast such a challenging, bold look at her neighbors that a sudden silence fell on the company, and all lowered their eyes, with the exception of Loiseau, who watched her with evident interest.
But conversation was soon resumed among the three ladies, whom the presence of this girl had suddenly drawn together in the bonds of friendship–one might almost say in those of intimacy. They decided that they ought to combine, as it were, in their dignity as wives in face of this shameless hussy; for legitimized love always despises its easygoing brother.
The three men, also, brought together by a certain conservative instinct awakened by the presence of Cornudet, spoke of money matters in a tone expressive of contempt for the poor. Count Hubert related the losses he had sustained at the hands of the Prussians, spoke of the cattle which had been stolen from him, the crops which had been ruined, with the easy manner of a nobleman who was also a tenfold millionaire, and whom such reverses would scarcely inconvenience for a single year. Monsieur Carre- Lamadon, a man of wide experience in the cotton industry, had taken care to send six hundred thousand francs to England as provision against the rainy day he was always anticipating. As for Loiseau, he had managed to sell to the French commissariat department all the wines he had in stock, so that the state now owed him a considerable sum, which he hoped to receive at Havre.
And all three eyed one another in friendly, well-disposed fashion. Although of varying social status, they were united in the brotherhood of money–in that vast freemasonry made up of those who possess, who can jingle gold wherever they choose to put their hands into their breeches’ pockets.
The coach went along so slowly that at ten o’clock in the morning it had not covered twelve miles. Three times the men of the party got out and climbed the hills on foot. The passengers were becoming uneasy, for they had counted on lunching at Totes, and it seemed now as if they would hardly arrive there before nightfall. Every one was eagerly looking out for an inn by the roadside, when, suddenly, the coach foundered in a snowdrift, and it took two hours to extricate it.
As appetites increased, their spirits fell; no inn, no wine shop could be discovered, the approach of the Prussians and the transit of the starving French troops having frightened away all business.
The men sought food in the farmhouses beside the road, but could not find so much as a crust of bread; for the suspicious peasant invariably hid his stores for fear of being pillaged by the soldiers, who, being entirely without food, would take violent possession of everything they found.
About one o’clock Loiseau announced that he positively had a big hollow in his stomach. They had all been suffering in the same way for some time, and the increasing gnawings of hunger had put an end to all conversation.
Now and then some one yawned, another followed his example, and each in turn, according to his character, breeding and social position, yawned either quietly or noisily, placing his hand before the gaping void whence issued breath condensed into vapor.
Several times Boule de Suif stooped, as if searching for something under her petticoats. She would hesitate a moment, look at her neighbors, and then quietly sit upright again. All faces were pale and drawn. Loiseau declared he would give a thousand francs for a knuckle of ham. His wife made an involuntary and quickly checked gesture of protest. It always hurt her to hear of money being squandered, and she could not even understand jokes on such a subject.
“As a matter of fact, I don’t feel well,” said the count. “Why did I not think of bringing provisions?” Each one reproached himself in similar fashion.
Cornudet, however, had a bottle of rum, which he offered to his neighbors. They all coldly refused except Loiseau, who took a sip, and returned the bottle with thanks, saying: “That’s good stuff; it warms one up, and cheats the appetite.” The alcohol put him in good humor, and he proposed they should do as the sailors did in the song: eat the fattest of the passengers. This indirect allusion to Boule de Suif shocked the respectable members of the party. No one replied; only Cornudet smiled. The two good sisters had ceased to mumble their rosary, and, with hands enfolded in their wide sleeves, sat motionless, their eyes steadfastly cast down, doubtless offering up as a sacrifice to Heaven the suffering it had sent them.
At last, at three o’clock, as they were in the midst of an apparently limitless plain, with not a single village in sight, Boule de Suif stooped quickly, and drew from underneath the seat a large basket covered with a white napkin.
From this she extracted first of all a small earthenware plate and a silver drinking cup, then an enormous dish containing two whole chickens cut into joints and imbedded in jelly. The basket was seen to contain other good things: pies, fruit, dainties of all sorts-provisions, in fine, for a three days’ journey, rendering their owner independent of wayside inns. The necks of four bottles protruded from among thp food. She took a chicken wing, and began to eat it daintily, together with one of those rolls called in Normandy “Regence.”
All looks were directed toward her. An odor of food filled the air, causing nostrils to dilate, mouths to water, and jaws to contract painfully. The scorn of the ladies for this disreputable female grew positively ferocious; they would have liked to kill her, or throw, her and her drinking cup, her basket, and her provisions, out of the coach into the snow of the road below.
But Loiseau’s gaze was fixed greedily on the dish of chicken. He said:
“Well, well, this lady had more forethought than the rest of us. Some people think of everything.”
She looked up at him.
“Would you like some, sir? It is hard to go on fasting all day.”
He bowed.
“Upon my soul, I can’t refuse; I cannot hold out another minute. All is fair in war time, is it not, madame?” And, casting a glance on those around, he added:
“At times like this it is very pleasant to meet with obliging people.”
He spread a newspaper over his knees to avoid soiling his trousers, and, with a pocketknife he always carried, helped himself to a chicken leg coated with jelly, which he thereupon proceeded to devour.
Then Boule le Suif, in low, humble tones, invited the nuns to partake of her repast. They both accepted the offer unhesitatingly, and after a few stammered words of thanks began to eat quickly, without raising their eyes. Neither did Cornudet refuse his neighbor’s offer, and, in combination with the nuns, a sort of table was formed by opening out the newspaper over the four pairs of knees.
Mouths kept opening and shutting, ferociously masticating and devouring the food. Loiseau, in his corner, was hard at work, and in low tones urged his wife to follow his example. She held out for a long time, but overstrained Nature gave way at last. Her husband, assuming his politest manner, asked their “charming companion” if he might be allowed to offer Madame Loiseau a small helping.
“Why, certainly, sir,” she replied, with an amiable smile, holding out the dish.
When the first bottle of claret was opened some embarrassment was caused by the fact that there was only one drinking cup, but this was passed from one to another, after being wiped. Cornudet alone, doubtless in a spirit of gallantry, raised to his own lips that part of the rim which was still moist from those of his fair neighbor.
Then, surrounded by people who were eating, and well-nigh suffocated by the odor of food, the Comte and Comtesse de Breville and Monsieur and Madame Carre-Lamadon endured that hateful form of torture which has perpetuated the name of Tantalus. All at once the manufacturer’s young wife heaved a sigh which made every one turn and look at her; she was white as the snow without; her eyes closed, her head fell forward; she had fainted. Her husband, beside himself, implored the help of his neighbors. No one seemed to know what to do until the elder of the two nuns, raising the patient’s head, placed Boule de Suif’s drinking cup to her lips, and made her swallow a few drops of wine. The pretty invalid moved, opened her eyes, smiled, and declared in a feeble voice that she was all right again. But, to prevent a recurrence of the catastrophe, the nun made her drink a cupful of claret, adding: “It’s just hunger- that’s what is wrong with you.”
Then Boule de Suif, blushing and embarrassed, stammered, looking at the four passengers who were still fasting:
“‘Mon Dieu’, if I might offer these ladies and gentlemen—-”
She stopped short, fearing a snub. But Loiseau continued:
“Hang it all, in such a case as this we are all brothers and sisters and ought to assist each other. Come, come, ladies, don’t stand on ceremony, for goodness’ sake! Do we even know whether we shall find a house in which to pass the night? At our present rate of going we sha’n’t be at Totes till midday to-morrow.”
They hesitated, no one daring to be the first to accept. But the count settled the question. He turned toward the abashed girl, and in his most distinguished manner said:
“We accept gratefully, madame.”
As usual, it was only the first step that cost. This Rubicon once crossed, they set to work with a will. The basket was emptied. It still contained a pate de foie gras, a lark pie, a piece of smoked tongue, Crassane pears, Pont-Leveque gingerbread, fancy cakes, and a cup full of pickled gherkins and onions–Boule de Suif, like all women, being very fond of indigestible things.
They could not eat this girl’s provisions without speaking to her. So they began to talk, stiffly at first; then, as she seemed by no means forward, with greater freedom. Mesdames de Breville and Carre-Lamadon, who were accomplished women of the world, were gracious and tactful. The countess especially displayed that amiable condescension characteristic of great ladies whom no contact with baser mortals can sully, and was absolutely charming. But the sturdy Madame Loiseau, who had the soul of a gendarme, continued morose, speaking little and eating much.
Conversation naturally turned on the war. Terrible stories were told about the Prussians, deeds of bravery were recounted of the French; and all these people who were fleeing themselves were ready to pay homage to the courage of their compatriots. Personal experiences soon followed, and Bottle le Suif related with genuine emotion, and with that warmth of language not uncommon in women of her class and temperament, how it came about that she had left Rouen.
“I thought at first that I should be able to stay,” she said. “My house was well stocked with provisions, and it seemed better to put up with feeding a few soldiers than to banish myself goodness knows where. But when I saw these Prussians it was too much for me! My blood boiled with rage; I wept the whole day for very shame. Oh, if only I had been a man! I looked at them from my window–the fat swine, with their pointed helmets!–and my maid held my hands to keep me from throwing my furniture down on them. Then some of them were quartered on me; I flew at the throat of the first one who entered. They are just as easy to strangle as other men! And I’d have been the death of that one if I hadn’t been dragged away from him by my hair. I had to hide after that. And as soon as I could get an opportunity I left the place, and here I am.”
She was warmly congratulated. She rose in the estimation of her companions, who had not been so brave; and Cornudet listened to her with the approving and benevolent smile of an apostle, the smile a priest might wear in listening to a devotee praising God; for long-bearded democrats of his type have a monopoly of patriotism, just as priests have a monopoly of religion. He held forth in turn, with dogmatic self- assurance, in the style of the proclamations daily pasted on the walls of the town, winding up with a specimen of stump oratory in which he reviled “that besotted fool of a Louis-Napoleon.”
But Boule de Suif was indignant, for she was an ardent Bonapartist. She turned as red as a cherry, and stammered in her wrath: “I’d just like to have seen you in his place–you and your sort! There would have been a nice mix-up. Oh, yes! It was you who betrayed that man. It would be impossible to live in France if we were governed by such rascals as you!”
Cornudet, unmoved by this tirade, still smiled a superior, contemptuous smile; and one felt that high words were impending, when the count interposed, and, not without difficulty, succeeded in calming the exasperated woman, saying that all sincere opinions ought to be respected. But the countess and the manufacturer’s wife, imbued with the unreasoning hatred of the upper classes for the Republic, and instinct, moreover, with the affection felt by all women for the pomp and circumstance of despotic government, were drawn, in spite of themselves, toward this dignified young woman, whose opinions coincided so closely with their own.
The basket was empty. The ten people had finished its contents without difficulty amid general regret that it did not hold more. Conversation went on a little longer, though it flagged somewhat after the passengers had finished eating.
Night fell, the darkness grew deeper and deeper, and the cold made Boule de Suif shiver, in spite of her plumpness. So Madame de Breville offered her her foot-warmer, the fuel of which had been several times renewed since the morning, and she accepted the offer at once, for her feet were icy cold. Mesdames Carre-Lamadon and Loiseau gave theirs to the nuns.
The driver lighted his lanterns. They cast a bright gleam on a cloud of vapor which hovered over the sweating flanks of the horses, and on the roadside snow, which seemed to unroll as they went along in the changing light of the lamps.
All was now indistinguishable in the coach; but suddenly a movement occurred in the corner occupied by Boule de Suif and Cornudet; and Loiseau, peering into the gloom, fancied he saw the big, bearded democrat move hastily to one side, as if he had received a well-directed, though noiseless, blow in the dark.
Tiny lights glimmered ahead. It was Totes. The coach had been on the road eleven hours, which, with the three hours allotted the horses in four periods for feeding and breathing, made fourteen. It entered the town, and stopped before the Hotel du Commerce.
The coach door opened; a well-known noise made all the travellers start; it was the clanging of a scabbard, on the pavement; then a voice called out something in German.
Although the coach had come to a standstill, no one got out; it looked as if they were afraid of being murdered the moment they left their seats. Thereupon the driver appeared, holding in his hand one of his lanterns, which cast a sudden glow on the interior of the coach, lighting up the double row of startled faces, mouths agape, and eyes wide open in surprise and terror.
Beside the driver stood in the full light a German officer, a tall young man, fair and slender, tightly encased in his uniform like a woman in her corset, his flat shiny cap, tilted to one side of his head, making him look like an English hotel runner. His exaggerated mustache, long and straight and tapering to a point at either end in a single blond hair that could hardly be seen, seemed to weigh down the corners of his mouth and give a droop to his lips.
In Alsatian French he requested the travellers to alight, saying stiffly:
“Kindly get down, ladies and gentlemen.”
The two nuns were the first to obey, manifesting the docility of holy women accustomed to submission on every occasion. Next appeared the count and countess, followed by the manufacturer and his wife, after whom came Loiseau, pushing his larger and better half before him.
“Good-day, sir,” he said to the officer as he put his foot to the ground, acting on an impulse born of prudence rather than of politeness. The other, insolent like all in authority, merely stared without replying.
Boule de Suif and Cornudet, though near the door, were the last to alight, grave and dignified before the enemy. The stout girl tried to control herself and appear calm; the democrat stroked his long russet beard with a somewhat trembling hand. Both strove to maintain their dignity, knowing well that at such a time each individual is always looked upon as more or less typical of his nation; and, also, resenting the complaisant attitude of their companions, Boule de Suif tried to wear a bolder front than her neighbors, the virtuous women, while he, feeling that it was incumbent on him to set a good example, kept up the attitude of resistance which he had first assumed when he undertook to mine the high roads round Rouen.
They entered the spacious kitchen of the inn, and the German, having demanded the passports signed by the general in command, in which were mentioned the name, description and profession of each traveller, inspected them all minutely, comparing their appearance with the written particulars.
Then he said brusquely: “All right,” and turned on his heel.
They breathed freely, All were still hungry; so supper was ordered. Half an hour was required for its preparation, and while two servants were apparently engaged in getting it ready the travellers went to look at their rooms. These all opened off a long corridor, at the end of which was a glazed door with a number on it.
They were just about to take their seats at table when the innkeeper appeared in person. He was a former horse dealer–a large, asthmatic individual, always wheezing, coughing, and clearing his throat. Follenvie was his patronymic.
He called:
“Mademoiselle Elisabeth Rousset?”
Boule de Suif started, and turned round.
“That is my name.”
“Mademoiselle, the Prussian officer wishes to speak to you immediately.”
“To me?”
“Yes; if you are Mademoiselle Elisabeth Rousset.”
She hesitated, reflected a moment, and then declared roundly:
“That may be; but I’m not going.”
They moved restlessly around her; every one wondered and speculated as to the cause of this order. The count approached:
“You are wrong, madame, for your refusal may bring trouble not only on yourself but also on all your companions. It never pays to resist those in authority. Your compliance with this request cannot possibly be fraught with any danger; it has probably been made because some formality or other was forgotten.”
All added their voices to that of the count; Boule de Suif was begged, urged, lectured, and at last convinced; every one was afraid of the complications which might result from headstrong action on her part. She said finally:
“I am doing it for your sakes, remember that!”
The countess took her hand.
“And we are grateful to you.”
She left the room. All waited for her return before commencing the meal. Each was distressed that he or she had not been sent for rather than this impulsive, quick-tempered girl, and each mentally rehearsed platitudes in case of being summoned also.
But at the end of ten minutes she reappeared breathing hard, crimson with indignation.
“Oh! the scoundrel! the scoundrel!” she stammered.
All were anxious to know what had happened; but she declined to enlighten them, and when the count pressed the point, she silenced him with much dignity, saying:
“No; the matter has nothing to do with you, and I cannot speak of it.”
Then they took their places round a high soup tureen, from which issued an odor of cabbage. In spite of this coincidence, the supper was cheerful. The cider was good; the Loiseaus and the nuns drank it from motives of economy. The others ordered wine; Cornudet demanded beer. He had his own fashion of uncorking the bottle and making the beer foam, gazing at it as he inclined his glass and then raised it to a position between the lamp and his eye that he might judge of its color. When he drank, his great beard, which matched the color of his favorite beverage, seemed to tremble with affection; his eyes positively squinted in the endeavor not to lose sight of the beloved glass, and he looked for all the world as if he were fulfilling the only function for which he was born. He seemed to have established in his mind an affinity between the two great passions of his life–pale ale and revolution–and assuredly he could not taste the one without dreaming of the other.
Monsieur and Madame Follenvie dined at the end of the table. The man, wheezing like a broken-down locomotive, was too short-winded to talk when he was eating. But the wife was not silent a moment; she told how the Prussians had impressed her on their arrival, what they did, what they said; execrating them in the first place because they cost her money, and in the second because she had two sons in the army. She addressed herself principally to the countess, flattered at the opportunity of talking to a lady of quality.
Then she lowered her voice, and began to broach delicate subjects. Her husband interrupted her from time to time, saying:
“You would do well to hold your tongue, Madame Follenvie.”
But she took no notice of him, and went on:
“Yes, madame, these Germans do nothing but eat potatoes and pork, and then pork and potatoes. And don’t imagine for a moment that they are clean! No, indeed! And if only you saw them drilling for hours, indeed for days, together; they all collect in a field, then they do nothing but march backward and forward, and wheel this way and that. If only they would cultivate the land, or remain at home and work on their high roads! Really, madame, these soldiers are of no earthly use! Poor people have to feed and keep them, only in order that they may learn how to kill! True, I am only an old woman with no education, but when I see them wearing themselves out marching about from morning till night, I say to myself: When there are people who make discoveries that are of use to people, why should others take so much trouble to do harm? Really, now, isn’t it a terrible thing to kill people, whether they are Prussians, or English, or Poles, or French? If we revenge ourselves on any one who injures us we do wrong, and are punished for it; but when our sons are shot down like partridges, that is all right, and decorations are given to the man who kills the most. No, indeed, I shall never be able to understand it.”
Cornudet raised his voice:
“War is a barbarous proceeding when we attack a peaceful neighbor, but it is a sacred duty when undertaken in defence of one’s country.”
The old woman looked down:
“Yes; it’s another matter when one acts in self-defence; but would it not be better to kill all the kings, seeing that they make war just to amuse themselves?”
Cornudet’s eyes kindled.
“Bravo, citizens!” he said.
Monsieur Carre-Lamadon was reflecting profoundly. Although an ardent admirer of great generals, the peasant woman’s sturdy common sense made him reflect on the wealth which might accrue to a country by the employment of so many idle hands now maintained at a great expense, of so much unproductive force, if they were employed in those great industrial enterprises which it will take centuries to complete.
But Loiseau, leaving his seat, went over to the innkeeper and began chatting in a low voice. The big man chuckled, coughed, sputtered; his enormous carcass shook with merriment at the pleasantries of the other; and he ended by buying six casks of claret from Loiseau to be delivered in spring, after the departure of the Prussians.
The moment supper was over every one went to bed, worn out with fatigue.
But Loiseau, who had been making his observations on the sly, sent his wife to bed, and amused himself by placing first his ear, and then his eye, to the bedroom keyhole, in order to discover what he called “the mysteries of the corridor.”
At the end of about an hour he heard a rustling, peeped out quickly, and caught sight of Boule de Suif, looking more rotund than ever in a dressing-gown of blue cashmere trimmed with white lace. She held a candle in her hand, and directed her steps to the numbered door at the end of the corridor. But one of the side doors was partly opened, and when, at the end of a few minutes, she returned, Cornudet, in his shirt- sleeves, followed her. They spoke in low tones, then stopped short. Boule de Suif seemed to be stoutly denying him admission to her room. Unfortunately, Loiseau could not at first hear what they said; but toward the end of the conversation they raised their voices, and he caught a few words. Cornudet was loudly insistent.
“How silly you are! What does it matter to you?” he said.
She seemed indignant, and replied:
“No, my good man, there are times when one does not do that sort of thing; besides, in this place it would be shameful.”
Apparently he did not understand, and asked the reason. Then she lost her temper and her caution, and, raising her voice still higher, said:
“Why? Can’t you understand why? When there are Prussians in the house! Perhaps even in the very next room!”
He was silent. The patriotic shame of this wanton, who would not suffer herself to be caressed in the neighborhood of the enemy, must have roused his dormant dignity, for after bestowing on her a simple kiss he crept softly back to his room. Loiseau, much edified, capered round the bedroom before taking his place beside his slumbering spouse.
Then silence reigned throughout the house. But soon there arose from some remote part–it might easily have been either cellar or attic–a stertorous, monotonous, regular snoring, a dull, prolonged rumbling, varied by tremors like those of a boiler under pressure of steam. Monsieur Follenvie had gone to sleep.
As they had decided on starting at eight o’clock the next morning, every one was in the kitchen at that hour; but the coach, its roof covered with snow, stood by itself in the middle of the yard, without either horses or driver. They sought the latter in the stables, coach-houses and barns- but in vain. So the men of the party resolved to scour the country for him, and sallied forth. They found them selves in the square, with the church at the farther side, and to right and left low-roofed houses where there were some Prussian soldiers. The first soldier they saw was peeling potatoes. The second, farther on, was washing out a barber’s shop. An other, bearded to the eyes, was fondling a crying infant, and dandling it on his knees to quiet it; and the stout peasant women, whose men-folk were for the most part at the war, were, by means of signs, telling their obedient conquerors what work they were to do: chop wood, prepare soup, grind coffee; one of them even was doing the washing for his hostess, an infirm old grandmother.
The count, astonished at what he saw, questioned the beadle who was coming out of the presbytery. The old man answered:
“Oh, those men are not at all a bad sort; they are not Prussians, I am told; they come from somewhere farther off, I don’t exactly know where. And they have all left wives and children behind them; they are not fond of war either, you may be sure! I am sure they are mourning for the men where they come from, just as we do here; and the war causes them just as much unhappiness as it does us. As a matter of fact, things are not so very bad here just now, because the soldiers do no harm, and work just as if they were in their own homes. You see, sir, poor folk always help one another; it is the great ones of this world who make war.”
Cornudet indignant at the friendly understanding established between conquerors and conquered, withdrew, preferring to shut himself up in the inn.
“They are repeopling the country,” jested Loiseau.
“They are undoing the harm they have done,” said Monsieur Carre-Lamadon gravely.
But they could not find the coach driver. At last he was discovered in the village cafe, fraternizing cordially with the officer’s orderly.
“Were you not told to harness the horses at eight o’clock?” demanded the count.
“Oh, yes; but I’ve had different orders since.”
“What orders?”
“Not to harness at all.”
“Who gave you such orders?”
“Why, the Prussian officer.”
“But why?”
“I don’t know. Go and ask him. I am forbidden to harness the horses, so I don’t harness them–that’s all.”
“Did he tell you so himself?”
“No, sir; the innkeeper gave me the order from him.”
“When?”
“Last evening, just as I was going to bed.”
The three men returned in a very uneasy frame of mind.
They asked for Monsieur Follenvie, but the servant replied that on account of his asthma he never got up before ten o’clock. They were strictly forbidden to rouse him earlier, except in case of fire.
They wished to see the officer, but that also was impossible, although he lodged in the inn. Monsieur Follenvie alone was authorized to interview him on civil matters. So they waited. The women returned to their rooms, and occupied themselves with trivial matters.
Cornudet settled down beside the tall kitchen fireplace, before a blazing fire. He had a small table and a jug of beer placed beside him, and he smoked his pipe–a pipe which enjoyed among democrats a consideration almost equal to his own, as though it had served its country in serving Cornudet. It was a fine meerschaum, admirably colored to a black the shade of its owner’s teeth, but sweet-smelling, gracefully curved, at home in its master’s hand, and completing his physiognomy. And Cornudet sat motionless, his eyes fixed now on the dancing flames, now on the froth which crowned his beer; and after each draught he passed his long, thin fingers with an air of satisfaction through his long, greasy hair, as he sucked the foam from his mustache.
Loiseau, under pretence of stretching his legs, went out to see if he could sell wine to the country dealers. The count and the manufacturer began to talk politics. They forecast the future of France. One believed in the Orleans dynasty, the other in an unknown savior–a hero who should rise up in the last extremity: a Du Guesclin, perhaps a Joan of Arc? or another Napoleon the First? Ah! if only the Prince Imperial were not so young! Cornudet, listening to them, smiled like a man who holds the keys of destiny in his hands. His pipe perfumed the whole kitchen.
As the clock struck ten, Monsieur Follenvie appeared. He was immediately surrounded and questioned, but could only repeat, three or four times in succession, and without variation, the words:
“The officer said to me, just like this: ‘Monsieur Follenvie, you will forbid them to harness up the coach for those travellers to-morrow. They are not to start without an order from me. You hear? That is sufficient.'”
Then they asked to see the officer. The count sent him his card, on which Monsieur Carre-Lamadon also inscribed his name and titles. The Prussian sent word that the two men would be admitted to see him after his luncheon–that is to say, about one o’clock.
The ladies reappeared, and they all ate a little, in spite of their anxiety. Boule de Suif appeared ill and very much worried.
They were finishing their coffee when the orderly came to fetch the gentlemen.
Loiseau joined the other two; but when they tried to get Cornudet to accompany them, by way of adding greater solemnity to the occasion, he declared proudly that he would never have anything to do with the Germans, and, resuming his seat in the chimney corner, he called for another jug of beer.
The three men went upstairs, and were ushered into the best room in the inn, where the officer received them lolling at his ease in an armchair, his feet on the mantelpiece, smoking a long porcelain pipe, and enveloped in a gorgeous dressing-gown, doubtless stolen from the deserted dwelling of some citizen destitute of taste in dress. He neither rose, greeted them, nor even glanced in their direction. He afforded a fine example of that insolence of bearing which seems natural to the victorious soldier.
After the lapse of a few moments he said in his halting French:

“What do you want?”
“We wish to start on our journey,” said the count.
“No.”
“May I ask the reason of your refusal?”
“Because I don’t choose.”
“I would respectfully call your attention, monsieur, to the fact that your general in command gave us a permit to proceed to Dieppe; and I do not think we have done anything to deserve this harshness at your hands.”
“I don’t choose–that’s all. You may go.”
They bowed, and retired.
The afternoon was wretched. They could not understand the caprice of this German, and the strangest ideas came into their heads. They all congregated in the kitchen, and talked the subject to death, imagining all kinds of unlikely things. Perhaps they were to be kept as hostages –but for what reason? or to be extradited as prisoners of war? or possibly they were to be held for ransom? They were panic-stricken at this last supposition. The richest among them were the most alarmed, seeing themselves forced to empty bags of gold into the insolent soldier’s hands in order to buy back their lives. They racked their brains for plausible lies whereby they might conceal the fact that they were rich, and pass themselves off as poor–very poor. Loiseau took off his watch chain, and put it in his pocket. The approach of night increased their apprehension. The lamp was lighted, and as it wanted yet two hours to dinner Madame Loiseau proposed a game of trente et un. It would distract their thoughts. The rest agreed, and Cornudet himself joined the party, first putting out his pipe for politeness’ sake.
The count shuffled the cards–dealt–and Boule de Suif had thirty-one to start with; soon the interest of the game assuaged the anxiety of the players. But Cornudet noticed that Loiseau and his wife were in league to cheat.
They were about to sit down to dinner when Monsieur Follenvie appeared, and in his grating voice announced:
“The Prussian officer sends to ask Mademoiselle Elisabeth Rousset if she has changed her mind yet.”
Boule de Suif stood still, pale as death. Then, suddenly turning crimson with anger, she gasped out:
“Kindly tell that scoundrel, that cur, that carrion of a Prussian, that I will never consent–you understand?–never, never, never!”
The fat innkeeper left the room. Then Boule de Suif was surrounded, questioned, entreated on all sides to reveal the mystery of her visit to the officer. She refused at first; but her wrath soon got the better of her.
“What does he want? He wants to make me his mistress!” she cried.
No one was shocked at the word, so great was the general indignation. Cornudet broke his jug as he banged it down on the table. A loud outcry arose against this base soldier. All were furious. They drew together in common resistance against the foe, as if some part of the sacrifice exacted of Boule de Suif had been demanded of each. The count declared, with supreme disgust, that those people behaved like ancient barbarians. The women, above all, manifested a lively and tender sympathy for Boule de Suif. The nuns, who appeared only at meals, cast down their eyes, and said nothing.
They dined, however, as soon as the first indignant outburst had subsided; but they spoke little and thought much.
The ladies went to bed early; and the men, having lighted their pipes, proposed a game of ecarte, in which Monsieur Follenvie was invited to join, the travellers hoping to question him skillfully as to the best means of vanquishing the officer’s obduracy. But he thought of nothing but his cards, would listen to nothing, reply to nothing, and repeated, time after time: “Attend to the game, gentlemen! attend to the game!” So absorbed was his attention that he even forgot to expectorate. The consequence was that his chest gave forth rumbling sounds like those of an organ. His wheezing lungs struck every note of the asthmatic scale, from deep, hollow tones to a shrill, hoarse piping resembling that of a young cock trying to crow.
He refused to go to bed when his wife, overcome with sleep, came to fetch him. So she went off alone, for she was an early bird, always up with the sun; while he was addicted to late hours, ever ready to spend the night with friends. He merely said: “Put my egg-nogg by the fire,” and went on with the game. When the other men saw that nothing was to be got out of him they declared it was time to retire, and each sought his bed.
They rose fairly early the next morning, with a vague hope of being allowed to start, a greater desire than ever to do so, and a terror at having to spend another day in this wretched little inn.
Alas! the horses remained in the stable, the driver was invisible. They spent their time, for want of something better to do, in wandering round the coach.
Luncheon was a gloomy affair; and there was a general coolness toward Boule de Suif, for night, which brings counsel, had somewhat modified the judgment of her companions. In the cold light of the morning they almost bore a grudge against the girl for not having secretly sought out the Prussian, that the rest of the party might receive a joyful surprise when they awoke. What more simple?
Besides, who would have been the wiser? She might have saved appearances by telling the officer that she had taken pity on their distress. Such a step would be of so little consequence to her.
But no one as yet confessed to such thoughts.
In the afternoon, seeing that they were all bored to death, the count proposed a walk in the neighborhood of the village. Each one wrapped himself up well, and the little party set out, leaving behind only Cornudet, who preferred to sit over the fire, and the two nuns, who were in the habit of spending their day in the church or at the presbytery.
The cold, which grew more intense each day, almost froze the noses and ears of the pedestrians, their feet began to pain them so that each step was a penance, and when they reached the open country it looked so mournful and depressing in its limitless mantle of white that they all hastily retraced their steps, with bodies benumbed and hearts heavy.
The four women walked in front, and the three men followed a little in their rear.
Loiseau, who saw perfectly well how matters stood, asked suddenly “if that trollop were going to keep them waiting much longer in this Godforsaken spot.” The count, always courteous, replied that they could not exact so painful a sacrifice from any woman, and that the first move must come from herself. Monsieur Carre-Lamadon remarked that if the French, as they talked of doing, made a counter attack by way of Dieppe, their encounter with the enemy must inevitably take place at Totes. This reflection made the other two anxious.
“Supposing we escape on foot?” said Loiseau.
The count shrugged his shoulders.
“How can you think of such a thing, in this snow? And with our wives? Besides, we should be pursued at once, overtaken in ten minutes, and brought back as prisoners at the mercy of the soldiery.”
This was true enough; they were silent.
The ladies talked of dress, but a certain constraint seemed to prevail among them.
Suddenly, at the end of the street, the officer appeared. His tall, wasp-like, uniformed figure was outlined against the snow which bounded the horizon, and he walked, knees apart, with that motion peculiar to soldiers, who are always anxious not to soil their carefully polished boots.
He bowed as he passed the ladies, then glanced scornfully at the men, who had sufficient dignity not to raise their hats, though Loiseau made a movement to do so.
Boule de Suif flushed crimson to the ears, and the three married women felt unutterably humiliated at being met thus by the soldier in company with the girl whom he had treated with such scant ceremony.
Then they began to talk about him, his figure, and his face. Madame Carre-Lamadon, who had known many officers and judged them as a connoisseur, thought him not at all bad-looking; she even regretted that he was not a Frenchman, because in that case he would have made a very handsome hussar, with whom all the women would assuredly have fallen in love.
When they were once more within doors they did not know what to do with themselves. Sharp words even were exchanged apropos of the merest trifles. The silent dinner was quickly over, and each one went to bed early in the hope of sleeping, and thus killing time.
They came down next morning with tired faces and irritable tempers; the women scarcely spoke to Boule de Suif.
A church bell summoned the faithful to a baptism. Boule de Suif had a child being brought up by peasants at Yvetot. She did not see him once a year, and never thought of him; but the idea of the child who was about to be baptized induced a sudden wave of tenderness for her own, and she insisted on being present at the ceremony.
As soon as she had gone out, the rest of the company looked at one another and then drew their chairs together; for they realized that they must decide on some course of action. Loiseau had an inspiration: he proposed that they should ask the officer to detain Boule de Suif only, and to let the rest depart on their way.
Monsieur Follenvie was intrusted with this commission, but he returned to them almost immediately. The German, who knew human nature, had shown him the door. He intended to keep all the travellers until his condition had been complied with.
Whereupon Madame Loiseau’s vulgar temperament broke bounds.
“We’re not going to die of old age here!” she cried. “Since it’s that vixen’s trade to behave so with men I don’t see that she has any right to refuse one more than another. I may as well tell you she took any lovers she could get at Rouen–even coachmen! Yes, indeed, madame–the coachman at the prefecture! I know it for a fact, for he buys his wine of us. And now that it is a question of getting us out of a difficulty she puts on virtuous airs, the drab! For my part, I think this officer has behaved very well. Why, there were three others of us, any one of whom he would undoubtedly have preferred. But no, he contents himself with the girl who is common property. He respects married women. Just think. He is master here. He had only to say: ‘I wish it!’ and he might have taken us by force, with the help of his soldiers.”
The two other women shuddered; the eyes of pretty Madame Carre-Lamadon glistened, and she grew pale, as if the officer were indeed in the act of laying violent hands on her.
The men, who had been discussing the subject among themselves, drew near. Loiseau, in a state of furious resentment, was for delivering up “that miserable woman,” bound hand and foot, into the enemy’s power. But the count, descended from three generations of ambassadors, and endowed, moreover, with the lineaments of a diplomat, was in favor of more tactful measures.
“We must persuade her,” he said.
Then they laid their plans.
The women drew together; they lowered their voices, and the discussion became general, each giving his or her opinion. But the conversation was not in the least coarse. The ladies, in particular, were adepts at delicate phrases and charming subtleties of expression to describe the most improper things. A stranger would have understood none of their allusions, so guarded was the language they employed. But, seeing that the thin veneer of modesty with which every woman of the world is furnished goes but a very little way below the surface, they began rather to enjoy this unedifying episode, and at bottom were hugely delighted– feeling themselves in their element, furthering the schemes of lawless love with the gusto of a gourmand cook who prepares supper for another.
Their gaiety returned of itself, so amusing at last did the whole business seem to them. The count uttered several rather risky witticisms, but so tactfully were they said that his audience could not help smiling. Loiseau in turn made some considerably broader jokes, but no one took offence; and the thought expressed with such brutal directness by his wife was uppermost in the minds of all: “Since it’s the girl’s trade, why should she refuse this man more than another?” Dainty Madame Carre-Lamadon seemed to think even that in Boule de Suif’s place she would be less inclined to refuse him than another.
The blockade was as carefully arranged as if they were investing a fortress. Each agreed on the role which he or she was to play, the arguments to be used, the maneuvers to be executed. They decided on the plan of campaign, the stratagems they were to employ, and the surprise attacks which were to reduce this human citadel and force it to receive the enemy within its walls.
But Cornudet remained apart from the rest, taking no share in the plot.
So absorbed was the attention of all that Boule de Suif’s entrance was almost unnoticed. But the count whispered a gentle “Hush!” which made the others look up. She was there. They suddenly stopped talking, and a vague embarrassment prevented them for a few moments from addressing her. But the countess, more practiced than the others in the wiles of the drawing-room, asked her:
“Was the baptism interesting?”
The girl, still under the stress of emotion, told what she had seen and heard, described the faces, the attitudes of those present, and even the appearance of the church. She concluded with the words:
“It does one good to pray sometimes.”
Until lunch time the ladies contented themselves with being pleasant to her, so as to increase her confidence and make her amenable to their advice.
As soon as they took their seats at table the attack began. First they opened a vague conversation on the subject of self-sacrifice. Ancient examples were quoted: Judith and Holofernes; then, irrationally enough, Lucrece and Sextus; Cleopatra and the hostile generals whom she reduced to abject slavery by a surrender of her charms. Next was recounted an extraordinary story, born of the imagination of these ignorant millionaires, which told how the matrons of Rome seduced Hannibal, his lieutenants, and all his mercenaries at Capua. They held up to admiration all those women who from time to time have arrested the victorious progress of conquerors, made of their bodies a field of battle, a means of ruling, a weapon; who have vanquished by their heroic caresses hideous or detested beings, and sacrificed their chastity to vengeance and devotion.
All was said with due restraint and regard for propriety, the effect heightened now and then by an outburst of forced enthusiasm calculated to excite emulation.
A listener would have thought at last that the one role of woman on earth was a perpetual sacrifice of her person, a continual abandonment of herself to the caprices of a hostile soldiery.
The two nuns seemed to hear nothing, and to be lost in thought. Boule de Suif also was silent.
During the whole afternoon she was left to her reflections. But instead of calling her “madame” as they had done hitherto, her companions addressed her simply as “mademoiselle,” without exactly knowing why, but as if desirous of making her descend a step in the esteem she had won, and forcing her to realize her degraded position.
Just as soup was served, Monsieur Follenvie reappeared, repeating his phrase of the evening before:
“The Prussian officer sends to ask if Mademoiselle Elisabeth Rousset has changed her mind.”
Boule de Suif answered briefly:
“No, monsieur.”
But at dinner the coalition weakened. Loiseau made three unfortunate remarks. Each was cudgeling his brains for further examples of self-sacrifice, and could find none, when the countess, possibly without ulterior motive, and moved simply by a vague desire to do homage to religion, began to question the elder of the two nuns on the most striking facts in the lives of the saints. Now, it fell out that many of these had committed acts which would be crimes in our eyes, but the Church readily pardons such deeds when they are accomplished for the glory of God or the good of mankind. This was a powerful argument, and the countess made the most of it. Then, whether by reason of a tacit understanding, a thinly veiled act of complaisance such as those who wear the ecclesiastical habit excel in, or whether merely as the result of sheer stupidity–a stupidity admirably adapted to further their designs– the old nun rendered formidable aid to the conspirator. They had thought her timid; she proved herself bold, talkative, bigoted. She was not troubled by the ins and outs of casuistry; her doctrines were as iron bars; her faith knew no doubt; her conscience no scruples. She looked on Abraham’s sacrifice as natural enough, for she herself would not have hesitated to kill both father and mother if she had received a divine order to that effect; and nothing, in her opinion, could displease our Lord, provided the motive were praiseworthy. The countess, putting to good use the consecrated authority of her unexpected ally, led her on to make a lengthy and edifying paraphrase of that axiom enunciated by a certain school of moralists: “The end justifies the means.”
“Then, sister,” she asked, “you think God accepts all methods, and pardons the act when the motive is pure?”
“Undoubtedly, madame. An action reprehensible in itself often derives merit from the thought which inspires it.”
And in this wise they talked on, fathoming the wishes of God, predicting His judgments, describing Him as interested in matters which assuredly concern Him but little.
All was said with the utmost care and discretion, but every word uttered by the holy woman in her nun’s garb weakened the indignant resistance of the courtesan. Then the conversation drifted somewhat, and the nun began to talk of the convents of her order, of her Superior, of herself, and of her fragile little neighbor, Sister St. Nicephore. They had been sent for from Havre to nurse the hundreds of soldiers who were in hospitals, stricken with smallpox. She described these wretched invalids and their malady. And, while they themselves were detained on their way by the caprices of the Prussian officer, scores of Frenchmen might be dying, whom they would otherwise have saved! For the nursing of soldiers was the old nun’s specialty; she had been in the Crimea, in Italy, in Austria; and as she told the story of her campaigns she revealed herself as one of those holy sisters of the fife and drum who seem designed by nature to follow camps, to snatch the wounded from amid the strife of battle, and to quell with a word, more effectually than any general, the rough and insubordinate troopers–a masterful woman, her seamed and pitted face itself an image of the devastations of war.
No one spoke when she had finished for fear of spoiling the excellent effect of her words.
As soon as the meal was over the travellers retired to their rooms, whence they emerged the following day at a late hour of the morning.
Luncheon passed off quietly. The seed sown the preceding evening was being given time to germinate and bring forth fruit.
In the afternoon the countess proposed a walk; then the count, as had been arranged beforehand, took Boule de Suif’s arm, and walked with her at some distance behind the rest.
He began talking to her in that familiar, paternal, slightly contemptuous tone which men of his class adopt in speaking to women like her, calling her “my dear child,” and talking down to her from the height of his exalted social position and stainless reputation. He came straight to the point.
“So you prefer to leave us here, exposed like yourself to all the violence which would follow on a repulse of the Prussian troops, rather than consent to surrender yourself, as you have done so many times in your life?”
The girl did not reply.
He tried kindness, argument, sentiment. He still bore himself as count, even while adopting, when desirable, an attitude of gallantry, and making pretty–nay, even tender–speeches. He exalted the service she would render them, spoke of their gratitude; then, suddenly, using the familiar “thou”:
“And you know, my dear, he could boast then of having made a conquest of a pretty girl such as he won’t often find in his own country.”
Boule de Suif did not answer, and joined the rest of the party.
As soon as they returned she went to her room, and was seen no more. The general anxiety was at its height. What would she do? If she still resisted, how awkward for them all!
The dinner hour struck; they waited for her in vain. At last Monsieur Follenvie entered, announcing that Mademoiselle Rousset was not well, and that they might sit down to table. They all pricked up their ears. The count drew near the innkeeper, and whispered:
“Is it all right?”
“Yes.”
Out of regard for propriety he said nothing to his companions, but merely nodded slightly toward them. A great sigh of relief went up from all breasts; every face was lighted up with joy.
“By Gad!” shouted Loiseau, “I’ll stand champagne all round if there’s any to be found in this place.” And great was Madame Loiseau’s dismay when the proprietor came back with four bottles in his hands. They had all suddenly become talkative and merry; a lively joy filled all hearts. The count seemed to perceive for the first time that Madame Carre-Lamadon was charming; the manufacturer paid compliments to the countess. The conversation was animated, sprightly, witty, and, although many of the jokes were in the worst possible taste, all the company were amused by them, and none offended–indignation being dependent, like other emotions, on surroundings. And the mental atmosphere had gradually become filled with gross imaginings and unclean thoughts.
At dessert even the women indulged in discreetly worded allusions. Their glances were full of meaning; they had drunk much. The count, who even in his moments of relaxation preserved a dignified demeanor, hit on a much-appreciated comparison of the condition of things with the termination of a winter spent in the icy solitude of the North Pole and the joy of shipwrecked mariners who at last perceive a southward track opening out before their eyes.
Loiseau, fairly in his element, rose to his feet, holding aloft a glass of champagne.
“I drink to our deliverance!” he shouted.
All stood up, and greeted the toast with acclamation. Even the two good sisters yielded to the solicitations of the ladies, and consented to moisten their lips with the foaming wine, which they had never before tasted. They declared it was like effervescent lemonade, but with a pleasanter flavor.
“It is a pity,” said Loiseau, “that we have no piano; we might have had a quadrille.”
Cornudet had not spoken a word or made a movement; he seemed plunged in serious thought, and now and then tugged furiously at his great beard, as if trying to add still further to its length. At last, toward midnight, when they were about to separate, Loiseau, whose gait was far from steady, suddenly slapped him on the back, saying thickly:
“You’re not jolly to-night; why are you so silent, old man?”
Cornudet threw back his head, cast one swift and scornful glance over the assemblage, and answered:
“I tell you all, you have done an infamous thing!”
He rose, reached the door, and repeating: “Infamous!” disappeared.
A chill fell on all. Loiseau himself looked foolish and disconcerted for a moment, but soon recovered his aplomb, and, writhing with laughter, exclaimed:
“Really, you are all too green for anything!”
Pressed for an explanation, he related the “mysteries of the corridor,” whereat his listeners were hugely amused. The ladies could hardly contain their delight. The count and Monsieur Carre-Lamadon laughed till they cried. They could scarcely believe their ears.
“What! you are sure? He wanted—-”
“I tell you I saw it with my own eyes.”
“And she refused?”
“Because the Prussian was in the next room!”
“Surely you are mistaken?”
“I swear I’m telling you the truth.”
The count was choking with laughter. The manufacturer held his sides. Loiseau continued:
“So you may well imagine he doesn’t think this evening’s business at all amusing.”
And all three began to laugh again, choking, coughing, almost ill with merriment.
Then they separated. But Madame Loiseau, who was nothing if not spiteful, remarked to her husband as they were on the way to bed that “that stuck-up little minx of a Carre-Lamadon had laughed on the wrong side of her mouth all the evening.”
“You know,” she said, “when women run after uniforms it’s all the same to them whether the men who wear them are French or Prussian. It’s perfectly sickening!”
The next morning the snow showed dazzling white tinder a clear winter sun. The coach, ready at last, waited before the door; while a flock of white pigeons, with pink eyes spotted in the centres with black, puffed out their white feathers and walked sedately between the legs of the six horses, picking at the steaming manure.
The driver, wrapped in his sheepskin coat, was smoking a pipe on the box, and all the passengers, radiant with delight at their approaching departure, were putting up provisions for the remainder of the journey.
They were waiting only for Boule de Suif. At last she appeared.
She seemed rather shamefaced and embarrassed, and advanced with timid step toward her companions, who with one accord turned aside as if they had not seen her. The count, with much dignity, took his wife by the arm, and removed her from the unclean contact.
The girl stood still, stupefied with astonishment; then, plucking up courage, accosted the manufacturer’s wife with a humble “Good-morning, madame,” to which the other replied merely with a slight arid insolent nod, accompanied by a look of outraged virtue. Every one suddenly appeared extremely busy, and kept as far from Boule de Suif as if tier skirts had been infected with some deadly disease. Then they hurried to the coach, followed by the despised courtesan, who, arriving last of all, silently took the place she had occupied during the first part of the journey.
The rest seemed neither to see nor to know her–all save Madame Loiseau, who, glancing contemptuously in her direction, remarked, half aloud, to her husband:
“What a mercy I am not sitting beside that creature!”
The lumbering vehicle started on its way, and the journey began afresh.
At first no one spoke. Boule de Suif dared not even raise her eyes. She felt at once indignant with her neighbors, and humiliated at having yielded to the Prussian into whose arms they had so hypocritically cast her.
But the countess, turning toward Madame Carre-Lamadon, soon broke the painful silence:
“I think you know Madame d’Etrelles?”
“Yes; she is a friend of mine.”
“Such a charming woman!”
“Delightful! Exceptionally talented, and an artist to the finger tips. She sings marvellously and draws to perfection.”
The manufacturer was chatting with the count, and amid the clatter of the window-panes a word of their conversation was now and then distinguishable: “Shares–maturity–premium–time-limit.”
Loiseau, who had abstracted from the inn the timeworn pack of cards, thick with the grease of five years’ contact with half-wiped-off tables, started a game of bezique with his wife.
The good sisters, taking up simultaneously the long rosaries hanging from their waists, made the sign of the cross, and began to mutter in unison interminable prayers, their lips moving ever more and more swiftly, as if they sought which should outdistance the other in the race of orisons; from time to time they kissed a medal, and crossed themselves anew, then resumed their rapid and unintelligible murmur.
Cornudet sat still, lost in thought.
Ah the end of three hours Loiseau gathered up the cards, and remarked that he was hungry.
His wife thereupon produced a parcel tied with string, from which she extracted a piece of cold veal. This she cut into neat, thin slices, and both began to eat.
“We may as well do the same,” said the countess. The rest agreed, and she unpacked the provisions which had been prepared for herself, the count, and the Carre-Lamadons. In one of those oval dishes, the lids of which are decorated with an earthenware hare, by way of showing that a game pie lies within, was a succulent delicacy consisting of the brown flesh of the game larded with streaks of bacon and flavored with other meats chopped fine. A solid wedge of Gruyere cheese, which had been wrapped in a newspaper, bore the imprint: “Items of News,” on its rich, oily surface.
The two good sisters brought to light a hunk of sausage smelling strongly of garlic; and Cornudet, plunging both hands at once into the capacious pockets of his loose overcoat, produced from one four hard-boiled eggs and from the other a crust of bread. He removed the shells, threw them into the straw beneath his feet, and began to devour the eggs, letting morsels of the bright yellow yolk fall in his mighty beard, where they looked like stars.
Boule de Suif, in the haste and confusion of her departure, had not thought of anything, and, stifling with rage, she watched all these people placidly eating. At first, ill-suppressed wrath shook her whole person, and she opened her lips to shriek the truth at them, to overwhelm them with a volley of insults; but she could not utter a word, so choked was she with indignation.
No one looked at her, no one thought of her. She felt herself swallowed up in the scorn of these virtuous creatures, who had first sacrificed, then rejected her as a thing useless and unclean. Then she remembered her big basket full of the good things they had so greedily devoured: the two chickens coated in jelly, the pies, the pears, the four bottles of claret; and her fury broke forth like a cord that is overstrained, and she was on the verge of tears. She made terrible efforts at self- control, drew herself up, swallowed the sobs which choked her; but the tears rose nevertheless, shone at the brink of her eyelids, and soon two heavy drops coursed slowly down her cheeks. Others followed more quickly, like water filtering from a rock, and fell, one after another, on her rounded bosom. She sat upright, with a fixed expression, her face pale and rigid, hoping desperately that no one saw her give way.
But the countess noticed that she was weeping, and with a sign drew her husband’s attention to the fact. He shrugged his shoulders, as if to say: “Well, what of it? It’s not my fault.” Madame Loiseau chuckled triumphantly, and murmured:
“She’s weeping for shame.”
The two nuns had betaken themselves once more to their prayers, first wrapping the remainder of their sausage in paper:
Then Cornudet, who was digesting his eggs, stretched his long legs under the opposite seat, threw himself back, folded his arms, smiled like a man who had just thought of a good joke, and began to whistle the Marseillaise.
The faces of his neighbors clouded; the popular air evidently did not find favor with them; they grew nervous and irritable, and seemed ready to howl as a dog does at the sound of a barrel-organ. Cornudet saw the discomfort he was creating, and whistled the louder; sometimes he even hummed the words:
Amour sacre de la patrie,
Conduis, soutiens, nos bras vengeurs,
Liberte, liberte cherie,
Combats avec tes defenseurs!
The coach progressed more swiftly, the snow being harder now; and all the way to Dieppe, during the long, dreary hours of the journey, first in the gathering dusk, then in the thick darkness, raising his voice above the rumbling of the vehicle, Cornudet continued with fierce obstinacy his vengeful and monotonous whistling, forcing his weary and exasperated- hearers to follow the song from end to end, to recall every word of every line, as each was repeated over and over again with untiring persistency.
And Boule de Suif still wept, and sometimes a sob she could not restrain was heard in the darkness between two verses of the song.

One thought on “Viên Mỡ Bò – Boule De Suff

Add yours

  1. “Chiến tranh là một sự dã man khi người ta đánh một người láng giềng đang sống yên lành,nhưng khi ta bảo vệ tổ quốc thì đó là một bổn phận thiêng liêng.”

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: